DIỄN ĐÀN THẾ GIỚI SINH VẬT CẢNH
       

Quay lại   THẾ GIỚI SINH VẬT CẢNH-Arowana-Dragon Fish-Cá Rồng Việt Nam > CÁ RỒNG - AROWANA - DRAGON FISH > BỂ, BỘ LỌC VÀ QUẢN LÝ NƯỚC CHO CÁ RỒNG

Loading
arowana

arowana
Gửi trả lời
 
LinkBack Công Cụ
  #11 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 07:04
Avatar của vjpsockcuteboy
Thành viên chủ chốt
 
Ngày gia nhập: Jun 2009
Tuổi: 26
Bài gửi: 1,402
Cảm ơn: 5,122
Được cảm ơn 4,409 lần trong 1,100 bài viết
Gửi tin nhắn qua Yahoo tới vjpsockcuteboy
nội công của anh moneyless thật thâm sâu khó lường(em đùa tý thui)e đọc xong mỗi bài viết của a mà thấy tầm hiểu biết của mình thật nhỏ béDiễn đàn của mình có những người như a thật bổ ích cho những người mới và đang chơi cá rồng hiện nay.Cám ơn a đã có những giải thích thật chi tiết
Trả lời kèm theo trích dẫn
Đã có 2 thành viên gửi lời cảm ơn tới vjpsockcuteboy vì bài viết hữu ích này:
  #12 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 08:01
Avatar của moneyless
Thành viên danh dự
 
Ngày gia nhập: Dec 2007
Bài gửi: 4,065
Cảm ơn: 7,383
Được cảm ơn 39,600 lần trong 4,029 bài viết
Rất cám ơn bạn TaiTượng đã chịu khó dịch bài viết tiếng Anh của tôi trền một diển đàn cá rồng khác sang tiếng Việt . Bạn dịch khá chính xác và đã chuyên chở được tất cả những ý chánh mà tôi muốn trình bày . Thanks again !
Trả lời kèm theo trích dẫn
Đã có 6 thành viên gửi lời cảm ơn tới moneyless vì bài viết hữu ích này:
  #13 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 08:41
Avatar của Andre
Moderator
 
Ngày gia nhập: Aug 2008
Tuổi: 45
Bài gửi: 2,685
Cảm ơn: 6,821
Được cảm ơn 9,543 lần trong 2,411 bài viết
Số ảnh gửi tại gallery: 45
Thiết nghĩ rằng arowana.com.vn nên có một tập tạp chí hay sách "bỏ túi" nói về các bệnh và kỹ thuật chăm sóc, nuôi CR riêng và các bệnh...., để các thành vien củ cũng như các thành viên mới + các Fan CR lưu trữ..... bởi các tác giả nổi tiếng trên diễn đàn.... và các mạnh thường quân thì nên tham gia "sponsor" để có một ấn phẩm đẹp dành cho CR Viẹt nam... trước đây có thấy Vietfish nhưng cảm thấy nó sao sao ấy... có gì đó chưa thật lắm... Một cây làm chẳng lên non 3 cây chụm lại thành hòn núi cao.... thanks cá bạn đã lắng nghe.
__________________
Nói từ từ nhưng phải suy nghĩ nhanh
Trả lời kèm theo trích dẫn
Đã có 7 thành viên gửi lời cảm ơn tới Andre vì bài viết hữu ích này:
  #14 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 08:54
Avatar của Taituong
Thành viên chủ chốt
 
Ngày gia nhập: Jun 2009
Bài gửi: 153
Cảm ơn: 207
Được cảm ơn 366 lần trong 123 bài viết
Trích dẫn:
Nitrite có 2 phân tử O2 bám vào nitrogen, và nitrate thì có đến những 3 phân tử O2 liên kết với nitrogen . Thêm một phân tử O2 bám vào , tạo cho nitrate trở nên gồ ghề, cản trở sự thẩm thấu qua các màng tế bào của mang cá vậy !
Em xin đóng góp chút ý kiến.

NH3 + O2 -> NO + H2O , NO + O2 -> NO2
NO2 + O2 + H2O -> HNO3
Qua chuỗi phản ứng trên có thể thấy việc tồn tại NH3 và NO2 với nồng độ vượt mức cho phép sẽ hấp thụ khí ôxy trong nước và trong máu cá để tạo ra axit nitric là loại axit cực mạnh phá hủy cấu tạo tế bào (hồng huyết cầu (hemoglobin)) làm cá mất dưỡng khí và mất luôn cả công cụ truyền dưỡng khí trong cơ thể.
. Có bác nào rành về sinh hóa giúp ae một tay.
Trích dẫn:
Nitrite có 2 phân tử O2 bám vào nitrogen, và nitrate thì có đến những 3 phân tử O2 liên kết với nitrogen . Thêm một phân tử O2 bám vào , tạo cho nitrate trở nên gồ ghề, cản trở sự thẩm thấu qua các màng tế bào của mang cá vậy !
Em không đồng ý với ý kiến này lắm. Mang cá không thể lọc được phân tử. Các phân tử này chỉ được lọc bằng các quá trình hóa học thôi. Và nói một cách chính xác Nitrite có 2 nguyên tử Oxy bám vào nitrogen, và nitrate thì có đến những 3 nguyên tử Oxy.
Cảm ơn các bác đã xem, mong có nhiều ý kiến góp ý để cùng mổ xẻ vấn đề.
Em hơi thắc mắc một chuyện. Hình như ta đang nói đến amoni NH4+ , nitrit -NO2, nitrat -NO3. chứ không phải về các khí NH3, NO2, NO3.
__________________
Nó kia kìa, nó kia kìa sếp ơi
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #15 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 09:07
Avatar của Andre
Moderator
 
Ngày gia nhập: Aug 2008
Tuổi: 45
Bài gửi: 2,685
Cảm ơn: 6,821
Được cảm ơn 9,543 lần trong 2,411 bài viết
Số ảnh gửi tại gallery: 45
Trích dẫn:
Nguyên văn bởi moneyless Xem Bài gửi
Okay, chúng ta bàn thảo rộng ra thêm nhé . Tác hại mạnh nhất và độc nhất của nitrate là :

nitrate có thể tác động lên hồng huyết cầu, làm biến dạng hồng huyết cầu từ dạng hemoglobin (có thể chuyên chở dưỡng khí O2) , và hemocyanin sang dạng methemoglobin (không thê chuyên chở dưỡng khí O2 đến các tế bào ) . Đây chính là tác hại nguy hiểm nhất, nếu không khắc phục về lâu dài sẻ có các ảnh hưởng như tôi đã nêu .

Có một điều chúng ta cần phận biệt cho thật rõ ràng ở đây trước khi đi sâu hơn vào vấn đề là ===> cả 2 độc tố nitrite (NO2-) và nitrate (NO3-) đều có khả năng làm biến chuyên cấu trúc của hồng huyết cầu (hemoglobin) và hemocyanin sang dạng không chuyên chở được oxygen, nhưng tại sao nitrate lại ít độc hại hơn nitrite, và không giết cá lẹ như độc tố nitrite ? Câu trả lời là vì cá sẻ hô hấp và qua đó dưỡng khí O2 và thán khí CO2 sẻ được trao đổi qua các mô tế bào của mang cá (thay vì qua 2 lá phổi như các động vật sinh sống trên đất liền) . Các mô tế bào mang cá dể thẩm thấu đối với nitrite (NO2-) hơn là nitrate (NO3-) . Vì thế khi hàm lượng của nitrate (NO3-) trong nước gia tăng, sự thẩm thâu' và thuyên chuyển độc tố này qua mang cá sẻ bị giới hạn khi so sánh với độc tố nitrite ! Để đơn giản hoá vấn đề cho dể hiểu và rõ ràng hơn, các bạn hảy nhìn vào công thức hoá học của va` cấu trúc củanitrite & nitrate ===>

Nitrite có 2 phân tử O2 bám vào nitrogen, và nitrate thì có đến những 3 phân tử O2 liên kết với nitrogen . Thêm một phân tử O2 bám vào , tạo cho nitrate trở nên gồ ghề, cản trở sự thẩm thấu qua các màng tế bào của mang cá vậy !

1. Đặc tính của độc tố nitrate là càng kéo dài thời gian tiếp xúc với nồng độ ngày càng gia tăng, thì các trường hợp ngộ độc càng nguy hiểm hơn .

2. Đồng thời khi kích thước của cá gia tăng, cũng như nồng độ của muối trong môi trường sống gia tăng , thì tính cách ngộ độc và tác hại của nitrate cũng sẻ thuyên giảm đáng kể . Đây cũng là lý do tại sao, các bể hồ cá nước biển sẻ không lo lắng về nồng độ nitrate trong nước vậy .

3. Thời gian "quen dần" với nồng độ nitrate ở hàm lượng thấp sẻ giúp cho cá gia tăng sức chịu đựng , và từ đó sẻ sống sót trong một môi trường có hàm lượng nitrate cao , trong khi các con cá cùng chủng loại và kích thước chua quen, sẻ "đi bán muối" khi mới cho vào và chưa thích nghi, quen dần .

Alright, tôi vừa đề cập các yếu tố quan trọng (1-3) trong việc cá bị ngộ độc nitrate, và sức chịu đựng thì lại còn tuỳ vào mốt số "tác nhân" phụ thuộc như đã nêu bên trên . Đây là những kiến thức , tìm hiểu và nghiên cứu từ các phòng thí nghiệm qua các quá trình tìm hiểu (Grabda, 1974; Conrad, 1990; Jensen, 1996 ;Scott and Crumkilton, 2000; Camargo and Ward, 1992, 1995 ;Tsai and Chen 2002 ). . Dựa vào đó, chúng ta có thể xuy luận và phỏng đoán các lý do tại sao cá la hán chết sau, và cá chép lại chết trước như huyếtlong đã nêu .

Sức chịu đựng của la hán, dĩ nhiên là mạnh hơn cá chép, đồng thời chơi la hán thì phải dùng muối khá nhiều . Tôi không nghĩ đây là điều trùng hợp ngẩu nhiên, cho dù bạn đã cho thông tin rằng cá la hán và chép đã được nuôi chung . Tôi không có mặt khi chuyện xảy ra, và chỉ đọc qua thông tin cung cấp . Hy vọng những gì vừa đề cập có thể giúp bạn lý giải những gì đã xảy ra về ngộ độc nitratte

Hệ thống miển dịch của con người nói riêng và các loài động vật nói chung, được cấu tạo trên một nguyên tắc self vs. nonself ===> những gì mà là của cơ thể sẻ được cho duyệt qua tuyến hùng giáp trạng (thymus), và sẻ được ghi nhớ . Chính tại nơi đây, hệ thống miển nhiểm được huấn luyện để nhận biết những gì là của cơ thể (self) và những gì không được nhận biết trong thời gian "tập huấn" này, sẻ bị coi là không của cơ thể (nonself) . Cơ thể của các động vật được cấu tạo trên các phân tử chủ yếu như sau : carbon, hydrogen, nitrogen, oxygen, phosphorous . Chính các phân tử (elements) liên kết tạo nên chúng ta và muôn loài , trong đó có cá . Nitrate là hợp chất có các phân tử chủ yếu (nitrogen và oxygen) ! Như đã đề cập, hệ thống miển nhiểm đã được "huấn luyện" nhận biết những gì là self và những gì là nonself . Một khi đã được ghi vào bộ nhớ, thì hệ thống miển nhiểm của cơ thể sẻ không bao giờ tạo ra những kháng thể có khả năng huỷ diêt những gì là phần cấu trúc căn bản của cơ thể cả . Đây cũng chính là lý do tại sao ung thư có thê/ tác oai, tác quai, làm hại cơ thể chúng ta, nhưng cơ thể không tạo ra kháng thể huỷ diệt các mầm mống ung thu, vì các khối u này là những gì căn bản của cơ thể tạo ra vậy , trừ khi các tinh thể natural killer cells (NK) là một phần quan trọng của hệ thống miển nhiểm được tái huấn luyện . Một khi được tại huấn luyện trong phòng thí nghiệm, các NK này của bệnh nhân sẻ được cấy ngược vào trở lại trong cơ thể của người bệnh, và giờ đây NK được "tái phối trí và tái huấn luyện" ====> sẻ truy lùng các mầm mống ung thư để tiêu diệt .

Đây là một trong những topic đang được nghiên cứu hot nhất hành tinh trong lĩnh vực y khoa . Như là truyện thần tiên, cổ tích . Chắc chắn trong tương la sẻ có giải Nobel về lĩnh vực này, sẻ xuất phát từ đây . Nhưng tôi lạc đề rồi .

Tôi không hề đề cập độc tố nitrite/nitrate có tác hại lên hệ thần kinh . Bạn đang bàn thảo độc tố nitrite hay nitrate ?
Mấy anh mà bàn luận kiểu này, chắc Andre về nhà lục lại Sách Sinh lý + Sinh Lý bệnh học lại quá. Đề tài rất sâu và khó. Bởi vì các anh đã lý giải cơ chế rất rõ ràng..... Andre chỉ góp ý với người chơi cá là nên quan tâm đến Benefit và kết quả của topic này để hạn chế những yếu tố độc hại cho chú cá cưng của mình.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #16 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 09:21
Avatar của Taituong
Thành viên chủ chốt
 
Ngày gia nhập: Jun 2009
Bài gửi: 153
Cảm ơn: 207
Được cảm ơn 366 lần trong 123 bài viết
Em xin giới thiệu bài này mọi người cùng tham khảo:
Nguồn http://www.dostbinhdinh.org.vn/HNKH7/T_luan47.htm
Trích dẫn:
ĐƯA THỰC VẬT THỦY SINH VÀO HỆ THỐNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐỂ LÀM SẠCH MÔI TRƯỜNG NƯỚC.
LÊ QUỐC TUẤN*, TRẦN THỊ THANH HƯƠNG**
*Khoa Công Nghệ Môi Trường - Đại Học Nông Lâm TP. HCM
**Khoa Khoa Học Cơ Bản - Đại Học Nông Lâm TP. HCM
1. Đặt vấn đề
Do hoạt động sống và sản xuất của con người cùng với mật độ dân số gia tăng nhanh chóng, các nguồn nước thải, nước mặt và cả nguồn nước ngầm ở nhiều vùng đã bị ô nhiễm đến mức báo động. Trong các tác nhân gây ô nhiễm, ngoài các chất độc như thuốc trừ sâu, diệt cỏ, kim loại nặng, còn có các hợp chất hữu cơ chứa nitrogen, phosphorus. Các hợp chất này trong nước mặt, đặc biệt là trong các nguồn nước dùng để nuôi thủy sản và cho sinh hoạt ở các dạng như NH4+, NO3-, PO43- có độc tính cấp và lâu dài đối với thủy động vật nuôi và con người.
Để loại bỏ các thành phần ô nhiễm này từ các nguồn nước, người ta đã phát triển công nghệ xử lý dựa vào hoạt động của các nhóm vi khuẩn chuyển hóa nitrogen hay sử dụng các hệ tự nhiên với sự tham gia của các vi sinh vật và thực vật thủy sinh [9].
Ở nước ta, trong nuôi trồng thuỷ sản, một vài cơ sở sản xuất giống đã sử dụng kỹ thuật lọc sinh học để khử NH4+ [2] và một số cơ sở nghiên cứu thuỷ sản đang xây dựng các hệ thống lọc tự nhiên liên hợp ở các đầm nuôi tôm cá nước lợ. Tại một số nơi, nhiều diện tích đang được sử dụng để nuôi tôm, cá và các loài thuỷ sản khác. Ở những nơi này tình trạng ô nhiễm môi trường nước các ao nuôi đã trở thành một trong những nguyên nhân gây dịch bệnh – nguy cơ chủ yếu đối với nghề này. Không những thế mà còn gây ảnh hưởng xấu đến các vùng nước ven bờ hoặc những con sông tiếp nhận nguồn nước nuôi này.
Vì vậy, việc nghiên cứu tuyển chọn một số loài thực vật thuỷ sinh có khả năng loại bỏ nitrogen và phosphorus liên kết và thiết kế một hệ thống các ao nuôi liên hợp để làm sạch các ao nuôi thuỷ sản cho từng địa bàn là cần thiết.
Trong báo cáo này chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu bước đầu về hoạt động trao đổi nitrogen và phosphorus liên kết của hai loài thực vật thuỷ sinh đang phát triển ưu thế ở các vùng nuôi nước ngọt, đồng thời thiết kế mô hình xử lý tự nhiên với sự tham gia của thực vật thuỷ sinh trong hệ thống nuôi trồng thuỷ sản.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là 2 loài thực vật thuỷ sinh nước ngọt: rong đuôi chồn (Ceratophyllum demersum); rong mái chèo (Valisneria spiralis) thường tập trung ở lưu vực các sông hoặc trong các ao nuôi thuỷ sản. Các đối tượng nghiên cứu được nuôi trong môi trường BG11 pha loãng 4 lần (BG11/4) và trong hệ thống tuần hoàn nước dưới ánh sáng đèn neon. Các chỉ số thuỷ lý hoá được xác định theo phương pháp tiêu chuẩn ; hàm lượng NH4+ được xác định bằng phương pháp so màu với thuốc thử Nessler; hàm lượng PO43- được xác định bằng phương pháp so màu với thuốc thử vanadate molipdate; hàm lượng NO3- được xác định bằng phương pháp so màu với thuốc thử sodium salicilate. Cường độ ánh sáng được xác định bằng máy Lux-meter Tostotem 0500, hàm lượng oxy hoà tan được xác định bằng máy OSI (Pháp); cường độ quang hợp được xác định dựa vào động thái thải oxy được ghi trên máy đo quang hợp. Chlorophyll được xác định theo phương pháp của Lorenze và cộng sự .
3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
3.1. Khả năng loại bỏ NH4+, NO3-, PO43- của thực vật thuỷ sinh.
Đã tiến hành nuôi 10g rong tươi trong 1 lít môi trường BG11/4 (không ammonium) với các hàm lượng NH4+, NO3-, PO43- ở nhiệt độ 28-300C dưới ánh sáng có cường độ 4000 lux. Sau 24 giờ nuôi (12 giờ chiếu sáng, 12 không có ánh sáng-ban đêm), tiến hành xác định hàm lượng NH4+, NO3-, PO43- còn lại trong dịch nuôi.
3.1.1. Khả năng loại bỏ NH4+
Với lượng NH4+ được bổ sung vào môi trường từ 15, 30, 60 và 90 mg/l, sau 24 giờ tiến hành xác định NH4+ còn lại trong dịch nuôi. Kết quả của một đợt thí nghiệm điển hình được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1: Khả năng loại bỏ NH4+ trong 24 giờ của hai loài thực vật thuỷ sinh
Thực vật thuỷ sinh
Hàm lượng NH4+-N (mg/l)
Hàm lượng NH4+ được loại bỏ
Hiệu suất (%)
Trước thí nghiệm
Sau thí nghiệm
Rong đuôi chồn
0
15
30
60
90
0
9.17
21.53
44.23
68.83
0
5.83
10.22
15.48
21.17
0
38.86
30.06
25.80
23.52
Rong mái chèo
0
15
30
60
90
0
8.61
19.78
43.32
67.69
0
6.39
10.22
16.68
22.31
0
42.60
30.06
27.80
24.78

Từ bảng 1 ta thấy, mặc dù hiệu suất loại bỏ NH4+ của các loài thực vật thuỷ sinh nghiên cứu không tỷ lệ với việc tăng nồng độ NH4+ trong môi trường nuôi từ 10 đến 90 mg/l, nhưng khả năng loại bỏ ion này của chúng có thể đạt tới 22 mg/l sau 24 giờ nuôi. Tuy nhiên sau 3 ngày nuôi (đối với rong đuôi chồn) và 4 ngày nuôi (đối với rong mái chèo) thì nhận thấy hàm lượng NH4+ trong môi trường chỉ còn lại dạng vết. Điều đó cho thấy triển vọng ứng dụng các đối tượng này trong việc làm sạch nước ở các ao nuôi thuỷ sản.
3.1.2 . Khả năng loại bỏ NO3-
Với lượng NO3- được bổ sung vào môi trường từ 15, 30, 60 và 90 mg/l, sau 24 giờ tiến hành xác định NO3- còn lại trong dịch nuôi. Kết quả của một đợt thínghiệm điển hình được trình bày ở bảng 2.
Bảng 2: Khả năng loại bỏ NO3- trong 24 giờ của hai loài thực vật thuỷ sinh
Thực vật thuỷ sinh
Hàm lượng NO3--N (mg/l)
Hàm lượng NO3- được loại bỏ
Hiệu suất
(%)
Trước thí nghiệm
Sau thí nghiệm
Rong đuôi chồn
0
15
30
60
90
0
8.87
18.43
43.41
66.21
0
6.13
11.57
16.59
18.23
0
40.86
38.56
27.65
20.25
Rong mái chèo
0
15
30
60
90
0
8.79
18.41
43.33
66.02
0
6.21
11.59
16.67
18.67
0
41.40
38.63
27.78
20.74

Kết quả trên cho thấy, trong khoảng nồng độ NO3- nghiên cứu, khi hàm lượng NO3- đưa vào tăng thì hiệu suất loại bỏ giảm dần, tuy nhiên lượng ion này được loại bỏ lại tăng lên, có thể đạt tới 18 NO3- - N/l. Như vậy, các đối tượng này có triển vọng ứng dụng để loại bỏ NO3- có trong các thuỷ vực bị ô nhiễm.
3.1.3. Khả năng loại bỏ PO43-
Tiến hành đánh giá khả năng loại bỏ PO43- của các đối tượng nghiên cứu khi đưa hợp chất này vào môi trường nuôi với các nồng độ 5, 10, 20 và 30 mg/l. Hàm lượng PO43- còn lại trong dịch nuôi được xác định sau 24 giờ. Kết quả thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.
Từ bảng 3 ta thấy, trong khoảng nồng độ nghiên cứu, hiệu suất loại bỏ không tỷ lệ thuận với việc tăng lượng PO43- bổ sung vào môi trường. Mặc dù vậy, các loài thực vật thuỷ sinh nghiên cứu có thể loại bỏ tới 9 mg PO43--P/l.

Bảng 3: Khả năng loại bỏ PO43- trong 24 giờ của hai loài thực vật thuỷ sinh
Thực vật thuỷ sinh
Hàm lượng PO43--P (mg/l)
Hàm lượng [PO43--P] được loại bỏ
Hiệu suất
(%)
Trước thí nghiệm
Sau thí nghiệm
Rong đuôi chồn
0
5
10
20
30
0
2.66
6.53
13.64
21.76
0
2.34
3.47
6.54
8.24
0
46.80
34.70
32.70
27.46
Rong mái chèo
0
5
10
20
30
0
2.87
6.76
13.33
20.98
0
2.13
3.54
6.87
9.02
0
42.60
35.40
34.35
30.06
Như vậy các đối tượng nghiên cứu có khả năng loại bỏ một lượng đáng kể NH4+, NO3- và PO43-, do vậy chúng có triển vọng được sử dụng trong xử lý làm sạch môi trường nước bị ô nhiễm các thành phần này.
Tuy nhiên, để nâng cao và ổn định hiệu quả xử lý, cần tìm hiểu đặc điểm của các quá trình loại bỏ đó. Sau đây chúng tôi sẽ trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình loại bỏ các ion kể trên.
3.2. Vai trò của ánh sáng đối với khả năng loại bỏ NH4+, NO3- và PO43- của hai loài thực vật thuỷ sinh nước ngọt.
Chúng tôi đã tiến hành nuôi 10g rong tươi hai đối tượng nghiên cứu trong môi trường BG11/4 vô đạm và bổ sung thêm NH4+, NO3- với hàm lượng 60mg N/l hoặc PO43- với hàm lượng 20mg P/l. Đặt các đối tượng dưới ánh sáng có cường độ từ 0 đến 6000lux. Cường độ quang hợp được xác định theo hàm lượng oxy thải ra.
3.2.1 Anh hưởng của ánh sáng đến khả năng loại bỏ NH4+.
Sau 12 giờ chiếu sáng dưới các cường độ ánh sáng khác nhau, hàm lượng NH4+ - N còn lại trong môi trường và cường độ quang hợp được xác định. Kết quả được trình bày ở bảng 4.
Từ bảng 4 ta thấy, cường độ quang hợp và lượng NH4+ được loại bỏ tăng theo cường độ ánh sáng. Như vậy, giữa quang hợp và khẳ năng loại bỏ NH4+ của các thực vật thuỷ sinh nghiên cứu có một một mối liên quan rõ rệt.

Bảng 4: Sự phụ thuộc của cường độ quang hợp và khả năng loại bỏ NH4+ của một số thực vật thuỷ sinh vào cường độ ánh sáng.
Loài thực vật
Cường độ ánh sáng (lux)
Cường độ quang hợp (mgO2/mg Chl.h)
[NH4+-N] được loại bỏ (mg/l)
Rong đuôi chồn
0
1000
2000
4000
6000
0
0.27
0.34
0.56
0.64
3.97
6.14
8.74
10.01
12.34
Rong mái chèo
0
1000
2000
4000
6000
0
0.30
0.54
0.62
0.81
3.76
7.34
10.21
12.32
14.71
3.2.2 Anh hưởng của ánh sáng đến khả năng loại bỏ NO3-
Các đối tượng được nuôi trong môi trường BG11/4 chứa 60mg/l NO3--N dưới các cường độ ánh sáng khác nhau. Sau 12 giờ chiếu sáng lượng NO3--N còn lại trong môi trường và cường độ quang hợp được xác định. Kết quả được trình bày ở bảng 5.
Bảng 5: Sự phụ thuộc của cường độ quang hợp và khả năng loại bỏ NO3- của thực vật thuỷ sinh vào cường độ ánh sáng.
Loài thực vật
Cường độ ánh sáng (lux)
Cường độ quang hợp (mgO2/mg Chl.h)
[NO3--N] được
loại bỏ (mg/l)
Rong đuôi chồn
0
1000
2000
4000
6000
0
0.47
0.59
0.64
0.91
3.54
6.76
9.47
12.76
14.89
Rong mái chèo
0
1000
2000
4000
6000
0
0.30
0.54
0.62
0.81
3.72
8.03
10.81
13.47
15.25
Kết quả ở bảng 5 cho thấy, thực vật thuỷ sinh đã loại bỏ một lượng đáng kể NO3- ngay cả khi không được chiếu sáng. Lượng NO3- được loại bỏ và cường độ quang hợp của chúng đã tăng dần tỷ lệ với việc tăng cường độ ánh sáng từ 1000-6000 lux. Điều này cho thấy tiềm năng loại bỏ các thực vật thuỷ sinh này để tận dụng năng lượng ánh sáng mặt trời nhằm loại bỏ NO3- ở các thuỷ vực nhờ khả năng quang hợp.
3.2.3 Anh hưởng của ánh sáng đến khả năng loại bỏ PO43-
Các thực vật thuỷ sinh nghiên cứu được nuôi trong môi trường BG11/4 có bổ sung thêm 20mg/l PO43--P. Đặt các đối tượng dưới các cường độ ánh sáng khác nhau. Cường độ quang hợp được xác định theo hàm lượng oxy thải ra. Sau 12 giờ, lượng PO43- còn lại trong môi trường nuôi được xác định. Kết quả được trình bày ở bảng 6.
Bảng 6: Sự phụ thuộc của cường độ quang hợp và khả năng loại bỏ PO43- của thực vật thuỷ sinh vào cường độ ánh sáng.
Loài thực vật
Cường độ ánh sáng (lux)
Cường độ quang hợp (mgO2/mg Chl.h)
[PO43--P] được loại bỏ (mg/l)
Rong đuôi chồn
0
1000
2000
4000
6000
0
0.29
0.32
0.41
0.64
2.06
2.37
3.23
3.78
4.89
Rong mái chèo
0
1000
2000
4000
6000
0
0.30
0.37
0.49
0.69
2.21
2.87
3.76
4.28
4.91

Số liệu trên cho thấy, các thực vật thuỷ sinh này có khả năng loại bỏ PO43- trong tối. Chiếu sáng cũng dẫn đến gia tăng khả năng này. Điều đó nói lên rằng khi nuôi các thực vật thuỷ sinh này trong các thuỷ vực ô nhiễm PO43- thì khả năng loại bỏ ion PO43- của chúng khá cao, ngay cả khi trời không có nắng.
Như vậy, ánh sáng ảnh hưởng mạnh đến khả năng loại bỏ NH4+, NO3- và PO43- của các thực vật thuỷ sinh nghiên cứu. Tuy nhiên, đối với thực vật, ánh sáng có thể có tác dụng như một tác nhân điều khiển hoặc như một nguồn năng lượng thông qua quá trình quang hợp. Theo những nghiên cứu của chúng tôi, nhận thấy rằng khi có chất ức chế (dyuron – là chất kìm hãm quan hệ II của pha sáng) đã kìm hãm khả năng loại bỏ NH4+ hai loài thực vật nghiên cứu ở trên [3]. Điều đó cho thấy quan hệ II liên quan chặt chẽ với khả năng này của các đối tượng này.
3.3. Hệ thủy sinh liên hợp
Trong thí nghiệm được thiết kế một hệ thống gồm các bể lọc liên hoàn (12 bể 200 lít) trong đó có 6 bể nuôi cá cảnh (cá mắt lồi, mỗi bể 2kg cá kích thước từ 40-60mm) và 6 bể nuôi rong mái chèo và rong đuôi chồn, thì hàm lượng các chất NH4+, NO3-, PO43- không đáng kể (khoảng 0.5-1 mg/l NH4+-N và 0.2-0.5mg/l PO3--P) trong hệ thống này. Đối với hệ thống nuôi hỗn hợp cả động vật (cá cảnh) và rong trong cùng một bể thì chúng tôi cũng có được kết quả như hệ thống liên hoàn. Và hệ thống này có thể hoạt động hiệu quả trong vòng 4 – 6 tháng mà không phải thay nước cũng không cần phải sục khí cho cá.
Với một bể nuôi đối chứng, trong đó chỉ có nuôi cá cảnh trong điều kiện không sục khí thì chỉ trong vòng 3 ngày hệ bể này bắt đầu có hiện tượng ô nhiễm với hàm lượng NH4+ đo được là 10mg/l và sau 5 ngày cá chết do ô nhiễm nặng. Theo các kết quả nghiên cứu trước đây tại pH=8.5, DO= 4 - 5mg/l tổng lượng NH4+-N = 2,5mg/l đã gây độc cho các sinh vật nước. Theo tiêu chuẩn quy định thì tổng lượng NH4+-N trong nước phải nhỏ hơn1.5mg/l.
Do đó, nếu như chúng ta thiết kế một hệ thống liên hoàn gồm các ao nuôi có sự hiện diện của thực vật thủy sinh hoặc một hệ thống các ao nuôi riêng rẽ: trong cùng một ao được chia thành hai phần, một phần là thực vật thủy sinh và một phần dùng để nuôi các loài thủy sản thì thiết nghĩ hệ thống này sẽ hoạt động có hiệu quả. Điều này phù hợp với một hệ sinh thái thủy sinh mà trong đó các loài động thực vật sống trong một mối tương hỗ có lợi cho nhau tạo thành một chuỗi thức ăn sinh thái. Thực vật sẽ sử dụng những sản phẩm của động vật đồng thời động vật sẽ lấy được một lượng oxy không nhỏ được thải ra mỗi ngày cho thủy vực qua hoạt động quang hợp của chúng.
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tính đến hoạt đông hô hấp của thực vật vào ban đêm, nhận thấy lượng oxy giảm đi không đáng kể từ 8 - 9mg/l vào ban ngày, sau một đêm lượng oxy hòa tan này chỉ vào khoảng 4 s- 5mg/l với hàm lượng oxy hòa tan nay vẫn thích hợp cho hoạt động sống của động vật. Hơn nữa vào ban đêm hầu như các loài thủy sản đều ở trong trạng thái nghỉ ngơi nên lượng oxy được loại bỏ bởi động vật cũng không đáng kể.
Từ kết quả trên nhận thấy việc đưa thực vật thủy sinh vào hệ thống các ao nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước nuôi, góp phần làm giảm được dịch bệnh trong quá trình nuôi. Đồng thời lượng thực vật thủy sinh này có thể là nguồn thức ăn quan trọng của một số loài thủy sản đang được nuôi hiện nay và cũng là nguồn thức ăn cho một số động vật nuôi trong một trang trại kết hợp. Ngoài ra chúng còn là một nguồn phân bón có giá trị khi được thu hoạch theo đúng mùa vụ.
4. Kết luận
- Trong môi trường BG11/4 vô đạm có bổ sung NH4+, NO3- (đến 90mg N/l) và PO43- (đến 30 mg/l), rong đuôi chồn và rong mái chèo với mật độ 10g/l trong 24 giờ có thể loại bỏ được khoảng 20mg NH4+-N/l; 18 mg NO3--N/l hoặc 10mg PO43--P/l.
- Hai loài thực vật thuỷ sinh nước ngọt nghiên cứu đều có thể loại bỏ NH4+, NO3- và PO43- trong tối, nhưng ánh sáng làm gia tăng quá trình này (đặc biệt là quá trình loại bỏ NH4+).
- Hệ thống liên hợp và hệ thống hỗn hợp thực vật và động vật trong hệ nuôi thuỷ sản hoạt động tốt, môi trường nước không bị ô nhiễm trong một thời gian dài là 6 tháng.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Đã có 7 thành viên gửi lời cảm ơn tới Taituong vì bài viết hữu ích này:
  #17 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 09:43
Avatar của Taituong
Thành viên chủ chốt
 
Ngày gia nhập: Jun 2009
Bài gửi: 153
Cảm ơn: 207
Được cảm ơn 366 lần trong 123 bài viết
From sinhviendct.net
Trích dẫn:
Nitrat và nitrit
Nitơ tồn tại trong thiên nhiên chủ yếu dưới dạng phân tử hai nguyên tử N2 và là một nguyên tố khá phổ biến trong thiên nhiên, chiếm 78,03% thể tích của không khí. Một cách gần đúng có thể coi thể tích của không khí gồm có 4 phần N2 và một phần O2.

Trong phân tử N2, nitơ liên kết với nhau bằng ba liên kết hoá trị. Để phá vỡ liên kết này cần một năng lượng rất lớn khoảng 942 kJ/mol. Điều này giải thích tính trơ của phân tử N2 và giải thích tại sao đa số hợp chất đơn giản của N2, mặc dù trong đó có liên kết bền, đều là hợp chất thu nhiệt. Cũng chính vì thế mà phần lớn các sinh vật sống không thể sử dụng trực tiếp nó được.

Nitơ có trong mọi sinh vật dưới dạng hợp chất hữu cơ phức tạp như prôtêin, axit nucleic, một số sinh tố và kích thích tố, chất màu của máu, clorophin....Nitơ là một trong những nguyên tố dinh dưỡng chính đối với thực vật. Bởi vậy trong nông nghiệp, những lượng lớn hợp chất của nitơ được thường xuyên cung cấp cho đất dưới dạng phân đạm để nuôi cây trồng. trong nước mưa có một lượng nhỏ axit nitơrơ (HNO2) và axit nitric (HNO3) được tạo thành do hiện tượng phóng điện trong khí quyển.

Nitơ tồn tại ở nhiều trạng thái oxi hoá khác nhau như NO3- (+5), NO2- (+3) và NH4+ (-3). Trong các dạng này thì NO3- và NO2- được quan tâm hơn cả vì chúng là những ion có khả năng gây độc cho con người.

Ngoài các trạng thái trên nitơ còn tồn tại ở trạng thái khí như N2, NO, N2O. Trong các dạng tồn tại của nitơ thì NO3- là dạng bền nhất và được tìm thấy nhiều trong nước ngầm tại các khu vực đất trồng trọt.


Nitrat
Nitrat là muối của axit nitric. Trong muối nitrat, ion NO3- có cấu tạo hình tam giác đều với góc ONO bằng 120 độ và độ dài liên kết N-O bằng 1,218 Angtron

Ion NO3- không có màu nên các muối nitrat của những cation không màu đều không có màu. Hầu hết các muối nitrat đều dễ tan trong nước. Một vài muối hút ẩm trong không khí như NaNO3 và NH4NO3. Muối nitrat của những kim loại hoá trị hai và hoá trị ba thường ở dạng hydrat

Muối nitrat khan của kim loại kiềm khá bền với nhiệt ( chúng có thể thăng hoa trong chân không ở 380- 500độC ). Còn các nitrat của kim loại khác dễ phân huỷ khi đun nóng. Độ bền nhiệt của muối nitrat phụ thuộc vào bản chất cation kim loại

Cd là một kim loại kém hoạt động trong môi trường axit yếu có thể khử được NO3- về NO2-
NO3- + Cd(Cu) + 2H+ ----> NO2- + Cd2+ + H2O
Dựa vào phản ứng đặc trưng này mà người ta có thể xây dựng các phương pháp khác nhau để phát hiện và định lượng nitrat.


Nitrit
Muối của axit nitrơ gọi là nitrit, muối nitrit bền hơn axit nhiều. Hầu hết muối nitrit dễ tan trong nước, muối ít tan là AgNO2. Đa số muối nitrit không có màu.

Nhờ có cặp electron tự do ở nitơ, ion NO2- có khả năng tạo liên kết cho nhận với ion kim loại. Một phức chất thường gặp là natri cobantinitrit Na3[Co(NO2)6]. Đây là thuốc thử dùng để phát hiện ion K+ nhờ tạo thành kết tủa K3[Co(NO2)6] màu vàng.

Nitrit kim loại kiềm bền với nhiệt, chúng không phân huỷ khi nóng chảy mà chỉ phân huỷ trên 500 độC. nitrit của các kim loại khác kém bền hơn, bị phân huỷ khi đun nóng, chẳng hạn như AgNO2 phân huỷ ở 140 độC, Hg(NO2) ở 75 độC.

Trong môi trường axit, muối nitrit có tính oxi hoá và tính khử như axit nitrơ. axit nitrơ cũng như muối NaNO2 được dùng rộng rãi trong công nghiệp hoá học, nhất là công nghiệp phẩm nhuộm azô.

Chu trình Nito
Chu trình của nitơ chủ yếu là các phản ứng liên quan đến sinh học. Tất cả các phản ứng trong chuỗi:
N2 ---> NH3 ---> NO2- ---> NO3- ---> NH4+ ---> Protein
và các phản ứng ngược lại thành N2 đều có thể do vi sinh vật thực hiện.

Các hợp chất của nitơ xuất hiện trong nước như NH4+, NO2-, NO3- là sản phẩm của quá trình phân huỷ vi sinh yếm khí (NH4+), hiếu khí (NO2-, NO3-) các chất hữu cơ chứa nitơ từ xác các sinh vật, chất thải hữu cơ...ở giai đoạn đầu các chất đạm dưới tác dụng cuả vi khuẩn yếm khí sẽ phân huỷ thành NH3:
(NH2)2CO + H2O ---> 2 NH3 + CO2

Ion amoni (NH4+) trong nước sau một thời gian tương đối dài sẽ chuyển dần thành NO3-.

Các nguồn thải từ một số ngành công nghiệp hoá chất, công nghiệp thực phẩm chứa axit nitric ( hoà tan trong nước mưa tạo HNO3) cũng đưa vào nước một lượng khá lớn NO3-.

Thành phần nitơ trong đất chủ yếu ở dạng hữu cơ, do kết quả của quá trình phân huỷ thực vật và động vật chết, phân, nước tiểu...nó được chuyển hoá thành NH3, NH4+ sau đó bị oxi hoá bởi vi khuẩn tạo thành NO2- rồi NO3- và thực vật sử dụng NO3- làm chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, nồng độ tự nhiên của nitrat trong đất không cao lắm, chưa đủ để đảm bảo cho cây trồng có năng suất cao. Vì vậy, người nông dân phải bổ sung vào đất các loại phân đạm như urê (NH2)2CO , NH4NO3, (NH4)2SO4....đều đặn để cấp thêm nitơ cho đất, nhất là sau khi thu hoạch đất bị bạc màu. Khi đó các vi khuẩn sẽ chuyển hoá NH4+ thành NO3- để cho cây hấp thụ.

Ngày nay do sử dụng phân đạm trong sản suất nông nghiệp quá nhiều và chưa đúng quy định là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm NO3- trong nước. Tuy nhiên, nitrat và amoni một phần chủ yếu được cây cối hấp thụ, một phần giải phóng ra ngoài khí quyển dưới dạng N2, NH3 và phần còn lại tích tụ trong đất và tan trong nước ngầm. Từ đó cho thấy nếu luợng đạm đưa vào đất càng nhiều thì lượng NO3- dư thừa càng tăng.

Tác hại của nitrat và nitrit
Theo đánh giá của tổ chức y tế thế giới WHO thì hàm lượng NO3- trong nước ngầm sử dụng cho cấp nước sinh hoạt ở hầu hết các nước phát triển đang tăng lên.

Trong các cây lương thực như lúa mì, ngô, đậu xanh thì hàm lượng nitrat thấp. Còn trong các loại rau ăn, nhất là bắp cải, súp lơ có hàm lượng nitrat cao.

Hàm lượng nitrat trong lương thực, rau quả liên quan chặt chẽ tới lượng đạm sử dụng. Nếu bón phân vừa đủ, cây cối phát triển tốt và lượng nitrat dư thừa trong đất còn rất ít, không đáng kể. Nếu bón phân vượt quá lượng đạm cần thiết thì lượng nitrat dư thừa trong đất tăng lên. Lượng nitrat dư thừa này sẽ đi vào các nguồn nước mặt, nước ngầm gây ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người.

NO3- khi vào cơ thể người tham gia phản ứng khử ở dạ dày và đường ruột do tác dụng của các men tiêu hoá sinh ra NO2-. Nitrit sinh ra phản ứng với Hemoglobin tạo thành methaemoglobinemia làm mất khả năng vận chuyển oxi của Hemoglobin.

Thông thường Hemoglobin chứa Fe2+, ion này có khả năng liên kết với oxi. Khi có mặt NO2- nó sẽ chuyển hoá Fe2+ làm cho hồng cầu không làm được nhiệm vụ chuyển tải O2. Nếu duy trì lâu sẽ dẫn tới tử vong.

4HbFe2+(O2) + 4 NO2- + 2 H2O ----> 2 HbFe3+ + OH- + 4 NO3- + O2

Sự tạo thành methaemoglobinemia đặc biệt thấy rõ ở trẻ em. Trẻ em mắc chứng bệnh này thường xanh xao ( bệnh Blue baby ) và dễ bị đe doạ đến cuộc sống đặc biệt là trẻ dưới 6 tháng tuổi.

Ngoài ra, NO2- trong cơ thể dễ tác động với các amin tạo thành nitrosamine- một hợp chất tiền gây ung thư.

Các hợp chất nitroso được tạo thành từ amin bậc hai và axit nitrơ ( HNO2) có thể trở nên bền vững hơn nhờ tách loại proton để trở thành nitrosamine.

Các amin bậc ba trong môi trường axit yếu ở pH = 3- 6 với sự có mặt của ion nitrit chúng dễ dàng phân huỷ thành anđehit và amin bậc hai. Sau đó amin bậc hai tiếp tục chuyển thành nitrosamin:


Các amin bậc hai thường xuất hiện trong quá trình nấu rán thực phẩm giàu protein hay quá trình lên men. Nitrit có trong rau quả vào khoảng 0,05 - 2 mg/kg. Khi dùng thực phẩm hay nguồn nước chứa hàm lượng nitrit vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây ngộ độc, ở liều lượng cao có thể gây chết người. Vì vậy những thực phẩm và các nguồn nước có chứa nitrat và nitrit cao cần phải loại bỏ và việc xác định hàm lượng chúng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng nước, chất lượng nông sản và rau quả.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Đã có 3 thành viên gửi lời cảm ơn tới Taituong vì bài viết hữu ích này:
  #18 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 09:43
Avatar của haips
Thành viên Hội Cá Rồng Hà Nội
 
Ngày gia nhập: Dec 2007
Bài gửi: 6,433
Cảm ơn: 18,488
Được cảm ơn 31,584 lần trong 5,570 bài viết
Cảm ơn bạn taituong về tư liệu trên. Các loại cây có thể xử lý NO3 đã đề cập đến trên diễn đàn bao gồm:
- Rong đuôi chồn (đuôi chó)
- Bèo tây / lục bình
- Cây Đước (Red Mangrove)

Nay biết thêm loại rong mái chèo qua bài viết.

Rong mái chèo:


Rong đuôi chồn:


Trích dẫn:
4. Kết luận
- Trong môi trường BG11/4 vô đạm có bổ sung NH4+, NO3- (đến 90mg N/l) và PO43- (đến 30 mg/l), rong đuôi chồn và rong mái chèo với mật độ 10g/l trong 24 giờ có thể loại bỏ được khoảng 20mg NH4+-N/l; 18 mg NO3--N/l hoặc 10mg PO43--P/l.
- Hai loài thực vật thuỷ sinh nước ngọt nghiên cứu đều có thể loại bỏ NH4+, NO3- và PO43- trong tối, nhưng ánh sáng làm gia tăng quá trình này (đặc biệt là quá trình loại bỏ NH4+).
- Hệ thống liên hợp và hệ thống hỗn hợp thực vật và động vật trong hệ nuôi thuỷ sản hoạt động tốt, môi trường nước không bị ô nhiễm trong một thời gian dài là 6 tháng.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Đã có 6 thành viên gửi lời cảm ơn tới haips vì bài viết hữu ích này:
  #19 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 10:10
Avatar của huyếtlong
Thành viên chính thức
 
Ngày gia nhập: Jun 2009
Bài gửi: 17
Cảm ơn: 2
Được cảm ơn 24 lần trong 13 bài viết
"Hệ thống miển dịch của con người nói riêng và các loài động vật nói chung, được cấu tạo trên một nguyên tắc self vs. nonself ===> những gì mà là của cơ thể sẻ được cho duyệt qua tuyến hùng giáp trạng (thymus), và sẻ được ghi nhớ . Chính tại nơi đây, hệ thống miển nhiểm được huấn luyện để nhận biết những gì là của cơ thể (self) và những gì không được nhận biết trong thời gian "tập huấn" này, sẻ bị coi là không của cơ thể (nonself) . Cơ thể của các động vật được cấu tạo trên các phân tử chủ yếu như sau : carbon, hydrogen, nitrogen, oxygen, phosphorous . Chính các phân tử (elements) liên kết tạo nên chúng ta và muôn loài , trong đó có cá . Nitrate là hợp chất có các phân tử chủ yếu (nitrogen và oxygen) ! Như đã đề cập, hệ thống miển nhiểm đã được "huấn luyện" nhận biết những gì là self và những gì là nonself . Một khi đã được ghi vào bộ nhớ, thì hệ thống miển nhiểm của cơ thể sẻ không bao giờ tạo ra những kháng thể có khả năng huỷ diêt những gì là phần cấu trúc căn bản của cơ thể cả . Đây cũng chính là lý do tại sao ung thư có thê/ tác oai, tác quai, làm hại cơ thể chúng ta, nhưng cơ thể không tạo ra kháng thể huỷ diệt các mầm mống ung thu, vì các khối u này là những gì căn bản của cơ thể tạo ra vậy , trừ khi các tinh thể natural killer cells (NK) là một phần quan trọng của hệ thống miển nhiểm được tái huấn luyện . Một khi được tại huấn luyện trong phòng thí nghiệm, các NK này của bệnh nhân sẻ được cấy ngược vào trở lại trong cơ thể của người bệnh, và giờ đây NK được "tái phối trí và tái huấn luyện" ====> sẻ truy lùng các mầm mống ung thư để tiêu diệt .

Đây là một trong những topic đang được nghiên cứu hot nhất hành tinh trong lĩnh vực y khoa . Như là truyện thần tiên, cổ tích . Chắc chắn trong tương la sẻ có giải Nobel về lĩnh vực này, sẻ xuất phát từ đây . Nhưng tôi lạc đề rồi ."

Hình như anh moneyless nghiên cứu trong lĩnh vực vacxin!? Rất cảm ơn về bài viết này.
Bài tham khảo của taituong rất hữu ích. Không biết những cây đã đề cập có hấp phụ những độc tố như đã nêu?(cái này không thuộc lĩnh vực của mình) Hay do những vi khuẩn ký sinh trên bộ rễ của cây sử dụng!? Vài bữa lấy mấy cây này về phân lập thử xem
Theo mình nghĩ : giá trị của topic này để các thành viên hiểu rõ hết những cơ chế tác động của độc tố nitrate/nitrite lâu dài khi cá sống ở môi trường có độc tố ngày càng tăng, từ đó chúng ta sẽ đưa ra giải pháp can thiệp trong những tình huống : sắp xếp bộ lọc, cá bị nhiễm độc dựa trên các triệu chứng, tác hại lâu dài ảnh hưởng cá--->biểu hiện hình thể cá như thế nào?
Trả lời kèm theo trích dẫn
Những thành viên sau đây đã gửi lời cảm ơn tới huyếtlong vì bài viết hữu ích này:
  #20 (permalink)  
Cũ 03-07-2009, 13:00
Avatar của Andre
Moderator
 
Ngày gia nhập: Aug 2008
Tuổi: 45
Bài gửi: 2,685
Cảm ơn: 6,821
Được cảm ơn 9,543 lần trong 2,411 bài viết
Số ảnh gửi tại gallery: 45
Imuno modulation

Trích dẫn:
Nguyên văn bởi huyếtlong Xem Bài gửi
"Hệ thống miển dịch của con người nói riêng và các loài động vật nói chung, được cấu tạo trên một nguyên tắc self vs. nonself ===> những gì mà là của cơ thể sẻ được cho duyệt qua tuyến hùng giáp trạng (thymus), và sẻ được ghi nhớ . Chính tại nơi đây, hệ thống miển nhiểm được huấn luyện để nhận biết những gì là của cơ thể (self) và những gì không được nhận biết trong thời gian "tập huấn" này, sẻ bị coi là không của cơ thể (nonself) . Cơ thể của các động vật được cấu tạo trên các phân tử chủ yếu như sau : carbon, hydrogen, nitrogen, oxygen, phosphorous . Chính các phân tử (elements) liên kết tạo nên chúng ta và muôn loài , trong đó có cá . Nitrate là hợp chất có các phân tử chủ yếu (nitrogen và oxygen) ! Như đã đề cập, hệ thống miển nhiểm đã được "huấn luyện" nhận biết những gì là self và những gì là nonself . Một khi đã được ghi vào bộ nhớ, thì hệ thống miển nhiểm của cơ thể sẻ không bao giờ tạo ra những kháng thể có khả năng huỷ diêt những gì là phần cấu trúc căn bản của cơ thể cả . Đây cũng chính là lý do tại sao ung thư có thê/ tác oai, tác quai, làm hại cơ thể chúng ta, nhưng cơ thể không tạo ra kháng thể huỷ diệt các mầm mống ung thu, vì các khối u này là những gì căn bản của cơ thể tạo ra vậy , trừ khi các tinh thể natural killer cells (NK) là một phần quan trọng của hệ thống miển nhiểm được tái huấn luyện . Một khi được tại huấn luyện trong phòng thí nghiệm, các NK này của bệnh nhân sẻ được cấy ngược vào trở lại trong cơ thể của người bệnh, và giờ đây NK được "tái phối trí và tái huấn luyện" ====> sẻ truy lùng các mầm mống ung thư để tiêu diệt .

Đây là một trong những topic đang được nghiên cứu hot nhất hành tinh trong lĩnh vực y khoa . Như là truyện thần tiên, cổ tích . Chắc chắn trong tương la sẻ có giải Nobel về lĩnh vực này, sẻ xuất phát từ đây . Nhưng tôi lạc đề rồi ."

Hình như anh moneyless nghiên cứu trong lĩnh vực vacxin!? Rất cảm ơn về bài viết này.
Bài tham khảo của taituong rất hữu ích. Không biết những cây đã đề cập có hấp phụ những độc tố như đã nêu?(cái này không thuộc lĩnh vực của mình) Hay do những vi khuẩn ký sinh trên bộ rễ của cây sử dụng!? Vài bữa lấy mấy cây này về phân lập thử xem
Theo mình nghĩ : giá trị của topic này để các thành viên hiểu rõ hết những cơ chế tác động của độc tố nitrate/nitrite lâu dài khi cá sống ở môi trường có độc tố ngày càng tăng, từ đó chúng ta sẽ đưa ra giải pháp can thiệp trong những tình huống : sắp xếp bộ lọc, cá bị nhiễm độc dựa trên các triệu chứng, tác hại lâu dài ảnh hưởng cá--->biểu hiện hình thể cá như thế nào?
Theo tôi hiểu thì Pro MNL đang phân tích về hệ miễn dịch của cơ thể và tính imuno- modulation ( sự điều biến miễn dịch hay sao ấy. laau quá quên roài)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Những thành viên sau đây đã gửi lời cảm ơn tới Andre vì bài viết hữu ích này:
Gửi trả lời



Công Cụ

Quyền hạn Gửi bài
Bạn không thể gửi chủ đề
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi đính kèm
Bạn không thể sửa bài của mình

Mã BB đang Mở
[IMG] đang Mở
Mã HTML đang Tắt
Trackbacks are Mở
Pingbacks are Mở
Refbacks are Mở


arowana
Tất cả thời gian được tính theo GMT +7. Bây giờ là 03:40.
free counters

Thế Giới Sinh Vật Cảnh © - Hà Nội - 2014 All Rights Reserved. Skin edited by Sieucan
Các tên miền của diễn đàn: www.arowana.com.vn ----- www.vietarowana.com
Ghi rõ nguồn "Thế Giới Sinh Vật Cảnh " khi bạn phát hành lại thông tin từ website này
DIỄN ĐÀN THẾ GIỚI SINH VẬT CẢNH-Arowana-Dragon Fish-Cá Rồng Việt Nam
   

Search Engine Friendly URLs by vBSEO 3.6.0