|
Những yếu tố vươn lên của Nhật Bản
Những yếu tố vươn lên của Nhật Bản
Bụi hoa màu mật ngọt thấy cái trang này cá chép Nhật bơi qua bơi lại đầy nhà anh em. Mà cá chép lại là biểu tượng về sức mạnh của đất nước Nhật, nhưng bà con chỉ biết có cá chép thôi. Hi hi hi sáng nay buồn tình lê gót lang thang ngoài phố chợ tình cờ nhặt được trang báo trong đó có bài viết của Phạm đình Lân viết về Nhật Bản. Mình thấy có lý sẽ giúp ích thêm cho mục Koi nên chép lại cho bà con đọc.
1. Yếu tố địa lý
Nhật Bản là quần đảo không có biên giới chung với Trung Hoa nên không bị khống chế của quốc gia to lớn và đông dân này trong quá khứ. Vào thế kỷ thứ 13 Mông cổ xâm chiếm Trung Hoa, người Mông cổ đem quân đi đánh Nhật Bản nhưng chiến thuyền của họ bị bảo đánh chìm hai lần nên họ từ bỏ ý đồ xâm lăng quần đảo Nhật Bản. Nhật cám ơn những Thần Phong mà họ là Kami Kaze đã cứu xứ họ khỏi sự xâm lăng của Mông Cổ.
Dân hải đảo quen với đời sống cô lập. Họ phải phấn đấu nhiều để phá vỡ sự bao vây của biển cả và núi rừng trùng điệp. Sự đấu tranh sinh tồn của họ đòi hỏi họ phải có nhiều sáng kiến và tinh thần phiêu lưu mạo hiểm. Không có vũ khí họ phải tự nghĩ ra võ thuật để bảo vệ. Họ thương yêu nhau giúp đở nhau và đoàn kết nhau để đương đầu với ngoại cảnh và quyết chiến với những kẻ gian manh đến cướp phá họ.
2. Tinh thần học hỏi và sáng tạo.
Người Nhật theo đạo Phật giáo đại thừa của Trung Hoa qua các sư tăng của Triều Tiên. Nhưng đạo Phật ở Nhật là một dạng đạo "Tinh Lành" tỏng giáo phái đại thừa. Zen (thiền) được đại chúng hoá ở Nhật. Zen được phổ biến ở thế kỷ 12 đồng thời với những phái thiền đời nhà Lý ở Việt Nam. Zen làm cho người Nhật kiên nhẫn, trầm lặng, chịu đựng và thư thả trước mọi thách thức thường xuyên trên đất họ: động đất, núi lửa cuồng phong, sóng thần và sự vật lộn của cuộc sốngtrong một quốc gia nhỏ hẹp, đông dân với 85% diện tích do núi rừng chiếm ngự. Zen giúp người Nhật biên đất nước họ thành hoa thơm cỏ lạ đáng yêu và đáng sống "trong đó có cá chép Nhật. Câu này của tôi thêm chứ không phải của tác giả ". Mặt dầu phải đối đầu vớ những cam go hằng ngày. Sự yêu thương cây cỏ của người Nhật nói lên phần nào sự trân quí nhân tài và ưa chuộng sức mạnh tập thể của dân tộc họ. Các sư tăng Nhật học thuật uống trà của Trung Hoa và đã biến thuật uống trà này thành trà đạo (Chanoya). (cái này VietNam Sky biết nè) . Với những nghi thức phức tạp dành cho những người trí thức, trưởng gia phong lưu theo học cả đời họ. Phật giáo có phát triển nhưng không vì thế mà thần đạo (Shintoism) bị tiêu diệt. Người Nhật tạo ra chữ Kana dựa vào hán tự.
Hiến pháp 1889 của Nhật không do Quốc Hội Lập Hiến soạn thảo và thông qua mà do một nhóm chuyên viên dưới sự điều khiển của Ito soạn thảo. Họ thích ứng với sinh hoạt dân chủ dễ dàng sau năm 1945 với bản hiến pháp 1946 không do người Nhật soạn thảo mà do một nhóm luật gia Hoa Kỳ làm ra. Đó là hiến pháp hiện hành.
Họ học phương pháp tổ chức và quản lý kinh doanh theo lối Hoa Kỳ nhưng lúc nào cũng tìm cách vuợt qua những quốc gia đã dạy họ bằng những sáng tạo riêng có nhiều hiệu quả hơn. Ngày nay, Hoa Kỳ cũng phải nhìn nhận phương pháp quản lý của người Nhật có nhiều ưu điểm làm cho Hoa Kỳ không thể xem thường được.
3. Tinh thần kỷ luật và tôn kính lãnh đạo.
Thần Đạo tạo cho người Nhật một niềm tin vô điều kiện rằng người lãnh đạo của họ là dòng dõi của Amaterasu (Thái Dương Thần Nữ) người lãnh đạo của Nhật ngày xưa không phải là vua hay hoàng đế thông thường mà là Thiên Hoàng (tenno; Mikaido). Trong thời phồn thịnh của nhà Đuuồng nhiếp chánh Shotuku (574-622) không xem Trung Hoa là Thiên Triều mà chỉ coi đó là xứ mặt trời lặn và Nhật là xứ mặt trời mọc. Do sự tôn kính xuất phát tự đáy lòng của người Nhật đối với Thiên Hoàng mà từ thời Thiên Hoàng đầu tiên Zimmu năm 600 trước Tây Lịch đến nay chỉ có một dòng lãnh đạo mà thôi. Dòng lịch sử trong sáng này không được tìm thấy bất cứ ở một đất nước nào trên thế giới.
Từ năm 1185 đến 1867, ngót 700 năm liền, Thiên Hoàng vô quyền trước các tướng quân (Shogun). Từ năm 1603 đến 1667, Nhật Bản đặt dưới sự cai trị của các tướng quân (Tokugawa) Thiên Hoàng vô quyền nhưng không vị tướng nào lật đổ Thiên Hoàng cả. Năm 1867 tướng quân Yoshinobu Tokugawa từ chức và trao quyền cho thái tử Mítu Hito nắm quyền để canh tân xứ sở. Đó là Thiên Hoàng Meiji lên ngôi khi mới 15 tuổi. Toàn dân ủng hộ vị Thiên Hoàng hoàn thành sứ mạng lịch sử trước sự đe doạ của sức mạnh kỹ thuật của các liệt cường Âu-Mỹ.
Thái tử Yoshihito Shinno lên ngôi năm 1912 dưới niên hiệu Taisho. Thiên Hoàng Taisho bị bịnh đau màn g óc bẩm sinh sức khoẻ rất kém nên mọi việc do các quần thần trong coi. Các triều thần không vì thế mà mưu toan soán ngôi hay gây khuynh đảo chánh trị trong triều. Trái lại tất cả đều hết lòng với Thiên Hoàng và đất nước. Dưới thời Thiên Hoàng Taisho Nhật là một trong Ngủ Cường chiến thắng trong đệ nhất thế chiến mặc dù Nhật chỉ tuyên chiến với Đức chứ không hề gởi quân sang chiến đấu ở chiến trường Âu Châu như Anh, Pháp, Hoa Kỳ và Ý. Hiệp ước Versailles cho Nhật nhiều quyền lợi của Đức trên bán đảo Sơn đông (Shantung) và trên các hải đảo Thái Bình Dương. Tinh thần kỷ luật và tôn kính cấp chỉ huy cũng như tinh thần võ sĩ đạo (Bushido) và các hiệp sĩ Xa mu em ra, ý quên (Samurai) mới đúng được huấn luyện ngay từ khi biết cầm võ khí trong tay. Tinh thần đó làm cho người Nhật tiến gần với Đức Bímarck cũng như dưới thời Adolf Hitler sau này. Hiến pháp này đã dược huỷ bỏ để được thay thế bằng hiến pháp 1946 do các nhà luật học của quân đội đồng minh (các nhà luật học Hoa Kỳ) chiếm đóng soạn ra nhầm dân chủ hoá nước Nhật và biến Nhật Hoàng trở thành người lãnh đạo với quyền hành tượng trưng trong chế độ dân chủ lập hiến đại nghị. Dù vậy người Nhật vẫn tôn thờ Thiên Hoàng trong tâm trí mình.
4. Đáp ứng kịp thời trước hoàn cảnh mới.
Nếu vội vã kết luận bảo thủ hay cấp tiến thì e rằng sự kết luận chỉ đúng một phần nào ở một tỷ lệ nào đó thôi. Người Nhật kết hợp TÂN CỔ một cách hài hoà. Về chính trị chế độ quân chủ vẫn được duy trì và tôn trọng. Về tôn giáo Thần Đạo vẫn có sự ảnh hưởng lớn trong đời sống của người Nhật. Các đền đài cổ xưa vẫn được bảo về và duy trì như những di sản văn hoá lâu đời của xứ sở. Tượng Phật khủng bằng đồng cao 11.40m, nặng 122 tấn Kamakura được đúc ở thế kỷ 12 vẫn còn nguyên vẹn. cho thấy kỷ nghệ luyện kim và kỷ thuật của Nhật đã trưởng thành từ 1192. Các chùa Phật giáo Kokukuji, Todaiji với tượng Phật bằng gỗ to nhất thế giới đã có từ thời đại Nara (710-749) nay vẫn còn được bảo trì. Những đền đài cổng đền Thần Đạo, chùa Phật giáo bằng gỗ cây bách (cypress) là những công trình kiến trúc làm bằng gỗ vĩ đại và bền vững ngay trong một quốc gia có vũ lượng cao và thường xuyên bị thiên tai. Hôn lễ được cử hành theo nghi th1c của Thần Đạo. Việc khấn xin trong đền Thần Đạo hay đi tìm thầy bói để cố vấn cho việc gì đó không hoàn toàn biến mất mà trái lại vẫn còn thịnh hành. Việc tin tưởng vào Thiên Mộc vẫn tồn tại. Nhờ đó Nhật còn tồn giử nhiều cây cổ thụ từ 500 cho đến 1000 tuổi với những hình dáng kỳ dị. Nhưng người Nhật mạnh dạng cử hành Tết Dương lịch thay vì Tết âm lịch như xưa. Họ dùng lúa mì nhiều hơn lúa gạo khi thấy việc ăn lúa mì tiện lợi và đở tốn thì giờ, tiền bạc. Họ quên hẳn Đông Y để hướng về Tây y. Quân sĩ mặc đồng phục chứ không mặc Hakama như các hiệp sĩ ngày xưa. Nam nữ đều mặc Âu phục cho gọn gàn khi làm việc trong văn phòng, trong nhà máy kỷ nghệ hay ngoài công trường. Áo Kimono chỉ dành trong các ngày lễ nó trở thành đắt giá so với Âu phục.
Chế độ tướng quân xây dựng trên võ nghiệp. Nhưng trước những phát súng đại bác bắn thị uy của Perry 1853 tướng quân đành phải ký hiệp ước bất bình đẳng với các nước Âu-Mỹ. Xiêm La cũng có hành động tương tự bằng cách ký các hiệp ước bất bình đẳng như trên. Nhờ vậy mà không quốc gia nào đ65c chiếm Nhật hay Xiêm La.Đó là nhượng bộ có tính toán vì dùng sức mạnh của các nước Âu-Mỹ để họ kìm chế lẫn nhau. Việc tướng quân Yoshinobu Tokugawa từ chức là một hành động yêu nước và thức thời. Từ bỏ quyền uy đã có trên 250 năm thật sự không phải là một chuyện dễ dàng mặc dù từ năm 1868 chiến tranh Bóhin (Mậu Thìn) bùng nổ giữa phe tướng quân và phe Thiên Hoàng Meiji. Phe của tướng quân Yoshinobu bị đánh bại. Thiên Hoàng không xử tướng quân. Năm 1902 vị tướng quân cuối cùng này được xem là một hoàng thân.
Nếu 1853 tướng quân này không thể nào lấy kiếm, cung, giáo đương đầu với đại bác của perry thì 1945 quân đội Nhật không thể nào đương đầu lại với vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ. Nhưng ai nêu ý kiến đầu hàng thì bị giết chết ngay tức khắc. Nhật hoàng Hirohito tuyên bố chấp nhận đầu hàng vô điều kiện và được toàn dân tuân theo. Công việc trước mắt là làm sao để phục hồi kinh tế thời hậu chiến.
Hoa kỳ bị ray rức ít nhiều bởi phải dùng hai trái bom nguyên tử để kết thúc chiến tranh. Hai trái bom nguyên tử đã hủy sạch hai thành phố Hiroshima và Nagasaki và gây tử vong cho 200.000 người.
Cuộc chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô làm cho vai trò của Nhật càng thêm quan trọng. Hoa Kỳ không mạnh tay trừng phạt Nhật mà còn giúp đở cho nước này phục hồi kinh tế. Cuộc chiến tranh Triều tiên 1950-1953 giúp ích rất nhiều cho việc phục hồi kinh tế Nhật vì nước này gần chiến trường nên sự tiếp liệu được nhanh chóng và dễ dàng hơn. Nhật chuyển sang kinh tế thời bình với kết quả mỹ mãn nhờ:
* Cần cù lao động và yêu công việc của ngươi Nhật
Đời sống ở Nhật rất khó khăn. Người Nhật đương đầu với thiên tai: động đất, sóng thần (Tsunami), núi lửa, bão tố. Nông dân của Nhật không có nhiều đất nên họ chăm sóc mảnh đất của họ như người làm vườn hoa. Đường sá ổ Nhật chật hẹp. Người lái xe phải khéo léo và bình tỉnh mới tránh được tai nạn (nhưng vẫn thua và không trình độ bằng con rồng cháu tiên lái xe hahahah câu này mình thêm vào hahahaah) Việc gây tiếng động và chửi bới ngoài đường hiếm thấy ở Nhật (lại thua VN mình thêm một chiêu ) Nhật sản xuất xe hơi nhưng chỉ để bán ra nước ngoài. Đa số dân dùng xe Bus hay xe lửa đi làm. Nước Nhật rộng 373.430 cây số vuông nhưng có đến 120 triệu dân. Có một công việc là một danh dự. Người làm công việc nhiều hay ít tiền vẫn tỏ ra yêu công việc và chu toàn công việc một cách hoàn hảo.
* Cải thiện phẩm chất hàng hoá
Giữa hai thế chiến Nhật chú trọng đến số lượng hàng sản xuất để bán giá rẻ chớ không quan tâm đến phẩm chất của món hàng. Họ sản xuất đồng hồ bản cân để cạnh tranh với đồng Thuỵ Sĩ. Sau 1945 hàng hoá Nhật có phẩm chất cao để phục hồi niềm tin người dân tiêu thụ. Radio, truyền hình, máy chụp hình, xe gắn máy Nhật đã giúp cho các quốc gia đang mở mang tiếp xúc với những tiện ngi vật chất mới. Hàng Nhật vừa bền vừa đẹp tiện lợi vừa cho túi tiền người tiêu thụ.
* Lịch sự, hiếu khách, lương thiện và đúng giờ
Đó là những ưu điểm hiện nước Nhật đang có. Những nhà kinh doanh hay du khách đến Nhật chắc chắn sẽ vui thú về đường phố, bến xe, nhà vệ sinh công cộng v.v... (đâu để hỏi reasmea mới biết thiẹt hong) Họ cũng bị thu hút về cách ăn đẹp của người Nhật từ học sinh cho đến người đi đường. Thành phố nhộn nhịp vì xe cộ và người đi bộ nhưng lại yên tịnh và ít xảy ra tai nạn do họ rất thận trọng. Diều đẹp mắt là các xe lớn ngoài đường điều không bị rỉ sét, vì theo qui định cứ hai năm chủ xe phải đi sơn sửa và bảo đảm máy móc xe tốt và đẹp. Việc mau sắm xe cũng không dễ dàng cho dù đủ tiền mua xe. Vì nhà cửa rất chật hẹp nhiều nhà không có chỗ đậu xe, cho nên người mua xe phải được cảnh sát giám định là nhà ấy có chỗ đậu xe. Dù là ngưi ngoại quốc hay du khách đi đến đâu cũng đưc kính trọng. Du khách được an tâm khi đi đường nghĩa là sẽ không bị dựt bóp hay gạt gẫm khi không biết đường hay không biết xài tiền Zen. Người bình dân Nhật không giỏi ngôn ngữ nhưng với sự lương thiện hiếu khách và đúng hẹn của họ làm cho chúng ta phải lưu luyến khi rời đất nước họ.
Fukuzawi Yukichi (1835-1901) là người có công lớn trong việc phát triển nền tân giáo dục ở Nhật trước khi có cuộc canh tân của Thiên Hoàng Meiji ông sáng lập ra trường Keio-Gigụku tức viện đại học Keio bây giờ. Trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội 1907 được dựa vào sáng kiến tiền phong của Fukuzawa với trường Keio-Gijụku. Thượng toạ Thích Thiên Ân tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại trường Keio . Ngày nay tại Nhật có nhiều trường đại học tiếng tâm và tầm vóc quốc tế cở như Oxford, Cambridge, Harva. Đại học Nhật đã đào tạo 15 khơi nguyên giải Nobel về vật ký, hoá học, văn chương và y khoa.
Kinh tế Nhật sau khi bại trận vượt hẳn kinh tế của chính nước này vào thời giữa hai thế chiến (1919-1939) ba quốc gia bại trận đều phục hưng kinh tế nhanh chóng. Nhưng Nhật là nước trội hơn cả. Nước Nhật chỉ bằng 1/28 của nước Hoa Kỳ nhưng nền kinh tế Nhật chỉ đứng sau Hoa Kỳ thôi. Nhật hoàng Hirohito là Nhật hoàng của thời chiến khi đế quốc Nhật bành trướng qua lục địa Á Châu và là Nhật Hoàng phôn vinh kinh tế sau chiến trận. Thời ngự trị của Hirohito (với niên hiệu là Showa) Hehehe Showa nghe anh em. Đánh dấu bằng sức mạnh quân sự thời chiến và sức mạnh kinh tế thời bình. Nước Nhật sau chiến tranh, tìnm cách xoá tan những ấn tượng xấu về người Nhật thời đệ nhị thế chiến để đẩy mạnh kinh thương Nhật với thế giới bên ngoài. Năm 1989 Nhật Hoàn Hirohito băng hà. Các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị đều gởi đại diện đến tham dự tang lễ ông... Ngồi viết tới đây mười dầu ngón tay của Bụi hoa màu mật ngọt và cặp mắt cũng muốn băng hà theo thiên hoàng luôn. Hết
|