|
||||
|
Cẩm nang về cá Rồng.
Lời giới thiệu: để tạo điều kiện để các bạn thành viên biết rõ hơn về cá Rồng, cũng như ấp ủ giấc mơ hoàn thiện về tổng hợp những kiến thức về cá Rồng của mình trên diễn đàn. mình xin tổng hợp lại tất cả các bài viết trên và ngoài diễn đàn, có thể sử dụng 1 số tư liệu nước ngoài. bài viết có thể chưa được sắp xếp Logic nhưng sau khi xong phần khung sẽ chỉnh lại sau. Bài viết gồm có những phần sau đây:
Phần 1: Cá Rồng là gì? Bạn biết gì về cá Rồng? Giới thiệu tổng quan về cá Rồng 1. Cá Rồng là gì? 2. Giới thiệu tổng quan về cá Rồng SÁCH CÁ RỒNG : THE MILLENNIUM DRAGON by William Goh & Julia Chua . Phiên dich bởi Moneyless Phân loại cá rồng bằng hình ảnh Phần 2: Kinh nghiệm kiến thức về cá Rồng 1. Đèn, ánh sáng và những gì có liên quan 2.Nhiệt độ của nước và sự ảnh hưởng của nó đối với cá rồng 3. Nuôi cộng đồng, sự đau đầu của người đam mê cá Rồng Phần 3: Bộ lọc là gì? Tại sao cần phải quan tâm đến hệ thống lọc? Phần 4: Cá Rồng thường bệnh gì? Cách điều trị và những điều cần nên tránh Phần 5: Phong thủy với cá Rồng Phần 6: Những điều thú vị về cá Rồng và thú chơi cá Rồng
__________________
You'll never walk alone
Sửa bởi genta : 31-07-2011 lúc 13:05. |
| Đã có 52 thành viên gửi lời cảm ơn tới genta vì bài viết hữu ích này: | ||
Andre, anh7antinh, anhtuantcl2, arowanafish, arowanaUSA, baoanh, batau86, blackbox, Bobo10, broadzone, Cavangsutu, Cá cảnh VN, duckhoi2674, dungtien, golden 9999, hdh206, hnthanh, hoachampa, hoaminh010, HoangLong88, hp_damme, khoikd1974, kimlong84, kybuulai, matrix2kdnl, micxuy, mrju, mtro, ndm1965, nguyen huy, nguyenngocdung1972, nhan_arowana, nvthang, panda1983, QuachDinhHa, qvd, Rô phi, RongCưuLong, smaller, sonanh2030, tanphu_catv, THUANTH, toan, trananh32, Tuanhht, tudaubac, Vanhd, Van_Hieu, vinhson, VuongGiaLong, vu_phong, zipbo999 | ||
|
||||
|
Phần 1: Cá Rồng là gì? Giới thiệu tổng quan về cá Rồng
1.Cá Rồng là gì? Nhận xét chung : Cá rồng có các tên gọi dân gian : Arowana , Dragon fish , Malayan Bonytongue, nirwana. Cá rồng có tên gọi là Arowana xuất phát từ hai tên gọi của chúng ở Indonesia là “Arwana “ hay “Nirwana “ có nghĩa là lý tưởng, hoàn hảo. Đây là một loài cá thuộc họ cá xương nước ngọt với tên khoa học Osteoglossidae, đôi khi còn gọi là "cá lưỡi xương" (cốt thiệt ngư). Trong họ cá này, đầu của chúng nhiều xương và thân thuôn dài được che phủ bằng các vảy lớn và nặng, với kiểu khảm ống. Cá có thân thon dài và dẹt bên, có một đôi râu mõm dài, vẩy to lấp lánh, vây ngực dài, vây lưng và vây hậu môn nằm về phía sau, cá có thể đạt tới chiều dài từ 60cm đến 90cm trường hợp ngoại lệ lên đến 120cm và nặng đến 7,2 kg. Đây là loài cá hung dữ và có tuổi thọ cao nhất trong các loài cá được nuôi làm cảnh. Thực tế đã chứng minh tuổi thọ của loài cá này có thể lên đến 50 năm. Cá có các vây lưng và vây hậu môn có các tia vây mềm và dài, trong khi vây ức và vây bụng lại nhỏ. Tên gọi 'cá lưỡi xương' (Bonytongue ) có nguồn gốc từ xương dạng răng trên phần sàn của miệng ( lưỡi ), được trang bị cùng các răng và ngoạm vào các răng ở phần trên trần của miệng. Cá có thể thu được ôxy từ không khí bằng cách hít nó vào trong bong bóng được bao bọc bằng các mao mạch tương tự như phổi. Cá Hải tượng ( Arapaima gigas ) là "cá thở không khí cưỡng bách". Đối với người Trung Hoa và các nền văn hóa Châu Á, đặc biệt là một số nước như Nhật, Đài Loan, Hồng Công .v.v. hay vùng Đông Á có ảnh hưởng nặng nề của văn hoá Trung Hoa thì con rồng là biểu tượng của sự quyền quý, may mắn và thịnh vượng. Trong mắt của người Trung Hoa, cá rồng với thân hình dài, dáng bơi luôn khoan thai, điềm đạm là biểu hiện cho một phong thái quân tử và sự uy nghi của rồng, đặc biệt cá rồng có bộ vảy lớn với màu sắc vàng, bạc, đỏ .v.v. long lánh được liên tưởng đến vảy rồng, râu cá rồng cũng được liên tưởng đến râu của con rồng huyền thoại. Sự tiến hoá hang trăm triệu năm cùng tuổi thọ cao của loài cá này cũng được cho là biểu hiện của sự trường tồn. Chính vì vậy người Trung Hoa nói riêng và người Châu Á nói chung luôn muốn nuôi trong nhà cá rồng với hi vọng tránh được những điều đen đủi, những vận hạn và mang lại sự may mắn, giàu sang và thịnh vượng. Thường thì những con cá rồng màu đỏ được cho là tránh điềm xui và mang lại may mắn trong công việc còn những con cá rồng màu vàng, màu trắng thì được cho sẽ đem lại tài lộc và sự thăng tiến trong công việc kinh doanh. Với các lý do trên cá rồng thường được sử dụng trong phong thuỷ như là một giải pháp mang tính thủ thuật rất hữu hiệu để cải biến môi trường sống và làm việc với mục đích mang lại may mắn và sự phồn vinh cho gia chủ. Trong dân gian đã truyền tụng nhiều câu truyện liên quan đến sự may mắn và giàu sang do cá rồng đem lại cho chủ. PHÂN LOẠI VÀ ĐỊA ĐỘNG VẬT HỌC Họ Cá rồng là họ cá nguyên thủy (cơ sở) có từ kỷ Hạ đệ tam ( khoảng hơn 200 triệu năm trước ) và được đặt trong bộ cá vây tia có tên khoa học Osteoglossiformes. Hiện tại còn 10 loài còn sinh tồn đã được miêu tả: 3 từ Nam Mỹ, 1 từ châu Phi, 4 từ châu Á và 2 từ Australia. Họ Osteoglossidae là họ cá nước ngọt duy nhất được tìm thấy ở cả hai bên của đường Wallace ( ranh giới thời gian bắt đầu thời đại khủng long ) .Điều này có thể giải thích bằng thực tế là cá rồng châu Á (S. formosus) đã phân nhánh ra khỏi hai loài ở Australia từ chi Scleropages là S. jardinii và S. leichardti vào khoảng 140 triệu năm trước, chứng tỏ một điều rằng các dạng cá rồng châu Á đã được lan truyền tới châu Á theo đường qua tiểu lục địa Ấn Độ. Qua quá trình nghiên cứu khảo cổ học trên thế giới từ trước đến nay đã chứng minh có ít nhất là 5 loài cá cổ, chỉ được biết đến từ các hóa thạch, cũng được phân loại vào họ Osteoglossidae; chúng có niên đại vào khoảng cuối kỷ Phấn Trắng. Các hóa thạch khác có niên đại xa hơn tới cuối kỷ Jura hay đầu kỷ Phấn Trắng nói chung được coi là thuộc về siêu bộ cá rồng (Osteoglossomorpha ). Các hóa thạch của cá dạng cá rồng được tìm thấy trên mọi châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực. CÁC LOÀI Họ cá rồng chứa hai phân họ là Heterotidinae (2 loài) và Osteoglossinae ( 8 loài) đã biết. • Phân họ Heterotidinae o Chi Arapaima Arapaima gigas : Cá hải tượng. Nguồn gốc Nam Mỹ o Chi Heterotis Heterotis niloticus : Cá rồng châu Phi, khổng tượng châu Phi, rồng đen châu Phi. Nguồn gốc châu Phi • Phân họ Osteoglossinae o Chi Osteoglossum Osteoglossum bicirrhosum : Cá ngân long. Nguồn gốc Nam Mỹ Osteoglossum ferreirai : Cá hắc long. Nguồn gốc Nam Mỹ. o Chi Scleropages Scleropages aureus : Kim long hồng vĩ. Nguồn gốc châu Á Scleropages formosus : Cá thanh long ( cá mơn ). Nguồn gốc châu Á Scleropages jardinii : Cá trân châu long, kim long Úc, châu long Úc rằn. Nguồn gốc Australia Scleropages legendrei : Cá huyết long, cá rồng đỏ. Nguồn gốc châu Á. Scleropages leichardti : Cá hồng điểm long, châu long Úc đốm sao. Nguồn gốc Australia Scleropages macrocephalus : Cá thanh long Borneo, kim long Indonesia. Nguồn gốc châu Á. Theo cách phân loại của giới sinh vật cảnh thì cá rồng được phân loại theo biên giới địa lý bao gồm các loại sau : Cá rồng Châu Á, cá rồng Châu Úc, cá rồng Châu Mỹ và cá rồng Châu Phi. Nghiên cứu di truyền học gần đây chỉ ra rằng nhánh dẫn tới cá hải tượng và cá rồng châu Phi đã phân nhánh vào khoảng 220 Ma ( Tức cách đây khoảng 220 triệu năm ) trong kỷ Hậu Trias, nhánh dẫn tới ngân long và hắc long của Nam Mỹ đã rẽ nhánh khoảng 170 Ma ( khoảng 170 triệu năm ) , trong Trung Trias. Nhánh dẫn tới các loài cá rồng Australia phân nhánh ra khỏi nhánh dẫn tới các loài cá rồng châu Á vào khoảng 140 Ma ( khoảng 140 triệu năm ), trong kỷ Tiền phấn trắng. Cá rồng châu Á ( Scleropages Formosus ) là một trong những loài cá cảnh hàng đầu bởi vì sự khan hiếm, danh tiếng, giá trị và vẻ đẹp tự nhiên của chúng. Đây cũng là giống loại cá rồng có nguy cơ bị tuyệt chủng nơi hoang dã và được bảo vệ bởi CITES (Hội Nghị Công Ước Quốc Tế Về Giao Thương Các Giống Loại Động Thực Vật Hoang Dã Đang Có Nguy Cơ Bị Tuyệt Chủng) từ năm 1980 . Chỉ có huyết long, kim long quá bối, kim long hồng vỹ, thanh long , và thanh long chỉ vàng (yellow tail arowana) bên Nam Á là được cho vào sổ đỏ để được bảo vệ, được giới thưởng ngoạn ưa chuộng, vì thế người chơi phải tốn một số tiền không nhỏ để sở hửu chúng . Một giống loại cá rồng có họ với cá rồng Châu Á là kim long Châu Úc (Scleropages jardini, và Scleropages leichardti), không được bảo vệ bởi CITES, vì số lượng của loại kim long Úc nơi hoang dã rất nhiều nên giá trị kinh tế cũng vì thế thấp nếu so với giá cả của cá rồng Châu Á . Ngân long và Hắc long có nguồn gốc từ Nam Mỹ cũng là bà con có họ xa với giống cá rồng Châu Á, cũng không được bảo vệ bởi CITES, và có giá trị kinh tế thấp nhất trên thị trường . Lý do cá rồng Châu Á có tên trong sổ đỏ của các động thực vật cần phải được bảo vệ bởi CITES là vì trong thập niên 1970’s, số lượng các giống loại cá rồng Châu Á ngoài thiên nhiên hoang dã đã tuột dốc đến mức độ nguy hiểm và báo động vì chúng bị săn lùng, đánh bắt quá mức vì giá trị kinh tế của chúng. Được xem là có hình dạng và dáng bơi tương tự như con rồng trong truyền thuyết, người ta tin tưởng rằng cá rồng tượng trưng cho may mắn, thịnh vượng, của cải và sức khoẻ. Vì vậy, chúng được nuôi với mong muốn đem lại tác dụng phong thuỷ tích cực. Người Trung Hoa tin cá rồng Châu Á có khả năng “trừ tà”, giải tỏa những chuyện không may cho gia chủ, vì thế khi sở hửu và chăm sóc chúng tốt, gia chủ đổi lại sẽ có được sự “bảo vệ” của giống loại cá rồng này. Ngoài ra, màu sắc của một số loài cá rồng châu Á như huyết long và kim long quá bối cũng đẹp nhất trong họ cá rồng nói chung. Cá rồng châu Á phân bố ở các nước trong vùng Đông Nam Á và có quan hệ họ hàng gần với cá rồng châu Úc hơn là cá rồng Nam Mỹ do cá rồng Châu Á được phân nhánh tách ra từ cá rồng Châu Úc với niên đại khoảng 140 triệu năm trước. Vây ngực và vây hậu môn của chúng lùi xa về phía sau tuy nhiên cá rồng châu Á chỉ có 5 hàng vảy mỗi bên thân so với 7 hàng vảy ở cá rồng châu Úc. Điều ngạc nhiên là dù rất nổi tiếng nhưng những nghiên cứu khoa học liên quan đến cá rồng châu Á lại khá ít ỏi, bằng chứng là trong một thời gian rất dài tất cả cá rồng châu Á đều được gộp chung dưới một tên khoa học là Scleropages formosus cho dù chúng có bề ngoài rất khác biệt. Sự đa dạng về chủng loại cá rồng trên thị trường cá cảnh là một minh chứng cho điều này. Nghiên cứu của Pouyaud và đồng sự (2003) đã phân lập các loài cá rồng ở Indonesia gồm huyết long (Scleropages legendrei), thanh long Borneo (Scleropages macrocephalus) và kim long hồng vĩ (Scleropages aureus) thành những loài riêng biệt. Kim long quá bối và thanh long Nami vẫn được xếp chung với thanh long dưới tên Scleropages formosus cho dù chúng cũng có thể là những loài riêng biệt. Thậm chí, trong từng loài cũng có thể có những dòng khác nhau. Về màu sắc, bên cạnh màu chủ đạo nằm ngoài viền vảy, màu ở trung tâm vảy gọi là màu nền. Ở mỗi loài lại phân ra nền xanh dương “blue-based”, nền xanh lá “green-based”, nền vàng “gold-based”, nền tím “purple-based”… Màu nền lan rộng trên mặt vảy làm màu viền hẹp lại là loại vảy bản mỏng “thin frame”, bằng ngược lại màu nền co cụm ở tâm vảy là loại vảy bản dày “thick frame”. Về hình dáng, có dạng đuôi hình thoi “diamond shape” và dạng đuôi hình quạt “fan shape”, có dạng đầu hình muỗng “spoon head” và dạng đầu hình viên đạn “bullet head”, có dạng thân rộng và ngắn, có dạng thân dài và mảnh mai… Việc lai chéo (cross breed) các dòng cá rồng hoang dã ở một loài diễn ra khá phổ biến trong các trang trại cá cảnh ở Thái Lan, Malaysia, Singapore và Indonesia. Do đó, các nghiên cứu khoa học về cá rồng châu Á gặp rất nhiều khó khăn vì phải dựa vào các cá thể hoang dã vốn còn sót lại rất ít. Cá rồng là các loài cá nước ngọt sơ khai và không tiến hóa gì nhiều kể từ thời khủng long còn tồn tại trên trái đất! Họ cá rồng Osteoglossidae bao gồm hai chi là Osteoglossum (cá rồng Nam Mỹ) và Scleropages (cá rồng châu Á và châu Úc). Cá rồng có vảy to, thân dẹp và dài, đầu có hình con dao bầu với một cặp râu ở chóp hàm dưới luôn chĩa ra phía trước được cho là có chức năng cảm nhận những biến động trên mặt nước. Cá rồng thích hợp với môi trường ấm áp, khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ từ 23 đến 30 độ C, độ pH 6-7 (6.5 là thích hợp nhất). Cấu trúc miệng của chúng cho thấy chúng là loài săn mồi tầng mặt. Cá rồng là loài cá săn mồi mạnh mẽ và rất hoạt động, chúng có khả năng phóng lên khỏi mặt nước để đớp mồi. Cá rồng là loài ấp miệng tức là cá đực hay cái sẽ ngậm và ấp trứng đã thụ tinh vào miệng để ấp cho đến khi trứng nở thành cá con. Cá con vẫn có thể quay lại trốn trong miệng cá bố mẹ khi gặp nguy hiểm. Ở cá rồng châu Á và Nam Mỹ, cá đực làm nhiệm vụ ấp trứng, trong khi ở cá rồng châu Úc, cá cái làm nhiệm vụ này. Quá trình ấp diễn ra từ 4 đến 8 tuần tuỳ loài. Chủ đề phân loại cá rồng là chủ đề khá phổ biến trên các diễn đàn cá cảnh, cả nội địa lẫn nước ngoài, tuy nhiên chúng tôi có 2 lý do chính để một lần nữa đề cập đến chúng ở đây: - Thứ nhất: các loài cá khổng tượng châu Phi (Heterotis niloticus) và khổng tượng Nam Mỹ (Arapaima gigas) nay được xếp vào một họ riêng - họ cá khổng tượng (Arapaimidae). Vì vậy, khi đề cập đến họ cá rồng (Osteoglossidae), chúng ta sẽ không liệt kê các loài cá khổng tượng như vẫn thường làm trước đây. Để phân biệt, chỉ cần nhớ là họ Arapaimidae không có râu như cá rồng. - Thứ hai: kết quả nghiên cứu khoa học vào năm 2003 của nhà khoa học Pháp Pouyaud và đồng sự trên các loại cá rồng ở Indonesia đã phân lập một số loài mới so với loài duy nhất vẫn được biết đến nay là Scleropages formosus. Chúng gồm huyết long, kim long hồng vĩ và thanh long Borneo. Chúng tôi sẽ cập nhật thông tin này ở đây. Chúng tôi cũng lập bản đồ chi tiết về những vùng phân bố tự nhiên của các loài cá rồng trên thế giới, hy vọng rằng chúng sẽ đáp ứng phần nào nhu cầu hiểu biết về cá rồng cho cá bạn yêu thích loài cá cảnh xinh đẹp này. |
| Đã có 53 thành viên gửi lời cảm ơn tới genta vì bài viết hữu ích này: | ||
anhtuantcl2, arowanaUSA, baoanh, BànhTiếnLong, broadzone, Cavangsutu, Cá cảnh VN, conhatroi, dinhdat1905, duckhoi2674, dungtien, golden 9999, green, hdh206, hp_damme, huagia, kybuulai, m.hung, man.pro007, mrju, namtran, ndm1965, nguyen huy, nguyenngocdung1972, nhan_arowana, njnjagaru, npn123, NV.HanhD, panda1983, phuochoi, QuachDinhHa, quang90, quangloc, quochuyct, rong thuy sinh, smaller, songhannt, tanphu_catv, thong mai, THUANTH, tieu long, tnusss, toan, trungarow, trungtruong, Tuanhht, tudaubac, Vanhd, Van_Hieu, viethung1184, viethung24k9999, VuongGiaLong, zipbo999 | ||
|
||||
|
2. Giới thiệu tổng quan về cá Rồng
Cá rồng châu Á Cá rồng châu Á là một trong những loài cá cảnh hàng đầu bởi vì danh tiếng, giá trị và vẻ đẹp tự nhiên của chúng. Được xem là có hình dạng và dáng bơi tương tự như con rồng trong truyền thuyết, người ta tin tưởng rằng cá rồng tượng trưng cho may mắn, thịnh vượng, của cải và sức khoẻ. Vì vậy, chúng được nuôi với mong muốn đem lại tác dụng phong thuỷ tích cực. Ngoài ra, màu sắc của một số loài cá rồng châu Á như huyết long và kim long quá bối cũng đẹp nhất trong họ cá rồng nói chung. Cá rồng châu Á phân bố ở các nước trong vùng Đông Nam Á và có quan hệ họ hàng gần với cá rồng châu Úc hơn là cá rồng Nam Mỹ. Vây ngực và vây hậu môn của chúng lùi xa về phía sau tuy nhiên cá rồng châu Á chỉ có 5 hàng vảy mỗi bên thân so với 7 hàng vảy ở cá rồng châu Úc. Điều ngạc nhiên là dù rất nổi tiếng nhưng những nghiên cứu khoa học liên quan đến cá rồng châu Á lại khá ít ỏi, bằng chứng là trong một thời gian rất dài tất cả cá rồng châu Á đều được gộp chung dưới một tên khoa học là Scleropages formosus cho dù chúng có bề ngoài rất khác biệt. Sự đa dạng về chủng loại cá rồng trên thị trường cá cảnh là một minh chứng cho điều này. Nghiên cứu của Pouyaud và đồng sự (2003) đã phân lập các loài cá rồng ở Indonesia thành những loài riêng biệt gồm huyết long (Scleropages legendrei), thanh long Borneo (Scleropages macrocephalus) và kim long hồng vĩ (Scleropages aureus). Kim long quá bối và thanh long Nami vẫn được xếp chung với thanh long dưới tên Scleropages formosus cho dù chúng cũng có thể là những loài riêng biệt. Thậm chí, trong từng loài cũng có thể có những dòng khác nhau. Về màu sắc, bên cạnh màu chủ đạo nằm ngoài viền vảy, màu ở tâm vảy gọi là màu nền. Ở mỗi loài lại phân ra nền lam “blue-based”, nền lục “green-based”, nền vàng “gold-based”, nền tím “purple-based”, thậm chí cả nền bạc “silver-based”… Màu nền lan rộng từ tâm vảy làm màu viền hẹp lại là loại vảy viền mỏng “thin rim/frame”, bằng ngược lại, màu nền co cụm ở tâm vảy là loại vảy viền dày “thick rim/frame”. Về hình dáng, có dạng đuôi hình thoi “diamond shape” và dạng đuôi hình quạt “fan shape”, có dạng đầu hình muỗng “spoon head” và dạng đầu hình viên đạn “bullet head”, có dạng thân rộng và ngắn, có dạng thân dài và mảnh mai… Việc lai chéo (cross breed) các dòng cá rồng hoang dã ở một loài diễn ra khá phổ biến trong các trang trại cá cảnh ở Thái Lan, Malaysia, Singapore và Indonesia. Do đó, các nghiên cứu khoa học về cá rồng châu Á gặp rất nhiều khó khăn vì phải dựa vào các cá thể hoang dã vốn còn sót lại rất ít. ![]() Ví dụ về các loại vảy ở loài huyết long: 1- nền lam, viền mỏng (blue-based, thin frame), 2- nền sẫm, viền dày (dark-based, thick frame), 3- dạng đặc biệt khi màu nền hầu như biến mất, toàn bộ mặt vảy phủ màu đỏ. ![]() Dạng đầu hình viên đạn-bullet head (trái) và dạng đầu hình muỗng-spoon head (bên phải). Huyết long (Scleropages legendrei) ![]() Huyết long (Scleropages legendrei). Huyết long (super red) là loài cá rồng phân bố ở thượng lưu sông Kapuas và vùng hồ Sentarum, tỉnh Tây Kalimantan, đảo Borneo, Indonesia. Hồ Sentarum là một tập hợp gồm vô số những hồ nhỏ ăn thông với nhau bằng hệ thống kinh rạch chằng chịt và đổ ra sông Kapuas. Vùng này phủ đầy bùn đất phát sinh từ lá cây và gỗ mục tạo ra môi trường sống hoang dã cho loài cá sơ khai này, dòng nước đen và nguồn thức ăn đa dạng có tác động tích cực lên màu sắc và hình dạng của chúng. Sự đa dạng về môi trường sinh thái này có thể là nguyên nhân tạo ra vô số những đặc điểm phân hoá ở loài huyết long. Chẳng hạn một số cá thể có thân rộng, một số khác có đầu hình muỗng (spoon head), một số có màu đỏ tươi hay một số lại có màu đỏ sẫm. Nghiên cứu của các nhà khoa học ở trường Đại học Quốc gia Singapore vào năm 2005 trên 41 cá thể huyết long hoang dã cho thấy độ khác biệt về gen giữa các cá thể là khá lớn, điều này chứng tỏ sự tồn tại của những dòng cá huyết long khác nhau. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại không đề cập gì đến đặc điểm bề ngoài của chúng. Việc nghiên cứu xa hơn trong tương lai có lẽ sẽ gặp nhiều khó khăn vì số lượng cá huyết long đang bị suy giảm nghiêm trọng do những biến đổi về môi trường mà chủ yếu là việc khai thác rừng. Trên thực tế, những nhà kinh doanh cá rồng trước đây đã chia huyết long thành hai loại dựa vào màu sắc của chúng, đó là “chili red” phân bố ở vùng phía Nam và “blood red” phân bố ở vùng phía Bắc hồ Sentarum. Loại “chili red” có màu đỏ tươi, thân rộng và dày, trong khi “blood red” có màu đỏ sậm, thân dài và mảnh. “Chili red” dày đều từ đầu cho đến đuôi trong khi “blood red” lại thuôn về phía đuôi. Loại “chili red” có nền lục “green-based”, đầu hình muỗng (spoon head) và đuôi hình thoi trong khi loại “blood red” có màu đỏ sậm, nền sẫm “dark-based”, đầu hình viên đạn (bullet head) và đuôi hình quạt. Loại “chili red” có mắt màu đỏ và to trong khi loại “blood red” có mắt nhạt màu và nhỏ hơn. Mắt “chili red” lớn đến nỗi có khi viền ngoài của nó “chạm” đến đầu và hàm dưới. Đuôi của “blood red” hình quạt trông đẹp hơn đuôi hình thoi của “chili red”. Đặc điểm này phát triển khi cá còn non giúp chúng ta có thể phân biệt được 2 loại cá một cách dễ dàng. Dù có khác biệt, cả hai đều chuyển sang màu đỏ thực thụ khi đến tuổi trưởng thành. “Chili red” lên màu chậm hơn 1-2 năm so với “blood red” nhưng màu tuyệt đẹp với loại vảy viền mỏng “thin rim/frame”. Quá trình lên màu của cả hai tương tự như nhau. Màu cam thường là màu trung gian trước khi cá chuyển sang màu đỏ. Cá biệt có con đến 8 tuổi mà vẫn nhợt nhạt nhưng bỗng lên màu đỏ rực chỉ trong một thời gian ngắn làm người nuôi ngỡ ngàng. Việc đánh giá chất lượng của một con huyết long đôi khi gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi người chơi phải nỗ lực và kiên nhẫn để phát hiện ra tiềm năng thực sự của nó. “Chili red” và “blood red” là tên gọi của các loại cá rồng hoang dã. Nên nhớ rằng các cá thể hoang dã bị cấm mua bán vì chúng là động vật cần được bảo vệ. Các trang trại cá cảnh thường lai chéo hai loại cá này với nhau để cho ra giống huyết long “super red”, cho nên trên thực tế, dòng huyết long thuần chủng đúng nghĩa không hề tồn tại trên thị trường cá cảnh cho dù có những cá thể mang đặc điểm của “chili red” hay “blood red”. Cá huyết long chất lượng cao thường có màu vây đỏ sậm và đều ngay từ khi còn nhỏ. Chúng còn có màu sắc nổi bật và lưng thật sẫm màu. Những con cá đẹp cũng có nhiều ánh kim trên thân. Đặc điểm này hiện rõ khi quan sát cá dưới ánh sáng tự nhiên. Khi cá đạt 25-30 cm, nắp mang và viền vảy phải có màu tím hay đỏ nâu, còn nếu chỉ hanh vàng là không đạt. Theo Unoaquatics, ngoài "blood red" và "chili red" còn có hai loại huyết long khác là “orange red” và “golden red”. Hai loại này có màu cam và cam-vàng chứ không đạt màu đỏ thực sự như hai loại đầu. Tác giả không nói rõ nguồn gốc của chúng, điều khiến chúng ta có thể suy đoán rằng đó là những cá thể lai tạp. “Orange red” và “golden red” thường được gộp chung với "blood red" và "chili red" thành “super red” nhưng chất lượng của chúng không bằng. Cá non rất giống với huyết long chính hiệu, nhưng khi trưởng thành không thể đạt được màu đỏ thực sự của huyết long. Thực tế, nếu cá lai được “điều trị” bằng chất lên màu thì không có cách gì phân biệt được do vậy người nuôi cá nên mua từ những nguồn cung cấp đáng tin cậy, cá có gắn chíp và giấy chứng nhận đầy đủ. ![]() Huyết long leucistic (nguồn www.waterwolves.com). ![]() Địa bàn phân bố tự nhiên của huyết long (Scleropages legendrei): thượng lưu sông Kapuas và hồ Sentarum, tỉnh Tây Kalimantan. Địa bàn phân bố của thanh long Borneo (Scleropages macrocephalus): các nhánh sông Melawi và Pinoh (dòng greytail), tỉnh Tây Kalimantan và sông Barito (dòng yellowtail), tỉnh Trung Kalimantan. Thanh long Borneo (Scleropages macrocephalus) Thanh long Borneo còn được biết dưới tên gọi khác là “ngân long châu Á” (silver Asian arowana) bởi vì thân và bụng của chúng có màu trắng bạc như loài ngân long Nam Mỹ. Loài này có thân rộng hơn so với loài thanh long bình thường, kích thước nhỏ, xấp xỉ 40 cm, đặc biệt vây ngực ngắn, không chạm tới gốc vây bụng. Thanh long Borneo bao gồm hai dòng là “greytail” hay "Pinoh" (còn viết là Pino) phân bố ở các sông Melawi và Pinoh, hai nhánh thuộc về hạ nguồn của sông Kapuas. Như tên gọi, vây của dòng cá này có màu xám sậm. Dòng thứ hai là “yellowtail” hay “Kuning Banjar” phân bố ở sông Barito, tỉnh Trung Kalimantan. Vây của dòng cá này có màu vàng, tia vây màu xám. Thanh long Borneo trưởng thành có những vệt hình móng ngựa màu xám sậm hay xanh tím trên mặt vảy rất đẹp, tuy nhiên, kích thước của chúng lại khá nhỏ so với những loài cá rồng khác. Dòng “yellowtail” khi còn nhỏ có vây màu vàng-cam nhạt nên có người còn gọi chúng là “thanh long hồng vĩ” hay “thanh hồng” . “Yellowtail” (hay “Kuning Banjar”) thường bị nhầm lẫn với “Banjar Red”, một loại cá lai giữa thanh long Borneo với huyết long mà chúng ta sẽ nói đến trong phần “Cá lai tạp”. Trên thực tế, “yellowtail” là một loài thuần chủng. (“Banjar” ám chỉ thành phố Banjarmasin nằm ở cửa sông Barito). ![]() Thanh long Borneo, dòng vây vàng "yellowtail". ![]() Thanh long Borneo, dòng vây xám "greytail". Kim long hồng vĩ (Scleropages aureus) ![]() Địa bàn phân bố tự nhiên của loài kim long hồng vĩ : vùng Pekanbaru, tỉnh Riau và khu bảo tồn Berbak, tỉnh Jambi. Loài này còn có tên là “kim long Indonesia”. Chúng phân bố ở đảo Sumatra, Indonesia trong các ao, hồ nhỏ dọc theo con sông Siak, đoạn chảy qua vùng Pekanbaru, tỉnh Riau và dọc theo con sông Batanghari, đoạn chảy qua khu bảo tồn Berbak, tỉnh Jambi. Loài này có lưng và 1/3 vây lưng (phần chóp) sậm màu, phần vây lưng còn lại, vây đuôi và vây hậu môn màu hanh đỏ hay nâu. Khi còn non, cá có màu hơi ửng vàng nhưng khi trưởng thành, tức đạt kích thước khoảng từ 28-34 cm, màu sắc của chúng sẽ phát triển tối đa và cá có màu vàng sậm. Giống như kim long quá bối, loài này cũng được chia thành nhiều loại gồm “green-based”, “blue-based” và “gold-based” tùy vào màu sắc ở tâm vảy. Tuy nhiên, kim long hồng vĩ được xếp hạng thấp hơn bởi vì màu vàng của chúng không sáng bằng kim long quá bối, mặt khác màu sắc thường chỉ phát triển đến hàng vảy thứ tư khi cá trưởng thành. Những con cá có chất lượng tốt hơn gọi là “cao lưng” (highback) kim long hồng vĩ có màu sắc phát triển lên đến hàng vảy thứ năm nhưng không bao giờ vượt quá lưng, màu trên nắp mang và viền vảy nổi rõ ngay cả khi cá còn non, độ khoảng 15 cm. Vây của chúng có màu đỏ sậm. So với kim long quá bối, kim long hồng vĩ có sức chịu đựng tốt, đầu nhỏ, thân dài và hung dữ hơn nên thường được nuôi từng con riêng rẽ. Giá của kim long hồng vĩ cũng tương đối “mềm” hơn so với kim long quá bối và huyết long nên được nhiều người chọn nuôi. ![]() Kim long hồng vĩ (Scleropages aureus) bình thường có màu sắc không vượt quá hàng vảy thứ tư. ![]() “Cao lưng” kim long hồng vĩ có màu sắc phát triển lên đến hàng vảy thứ năm. Thanh long (Scleropages formosus) Đây là loài cá rồng có giá trị thấp nhưng lại phổ biến nhất trong số những loài cá rồng châu Á. Loài thanh long phân bố rất rộng bao gồm các đảo Borneo và Sumatra ở Indonesia, Malaysia, miền Nam Thái Lan, Campuchia và miền Nam Việt Nam. Thanh long có kích thước tối đa khoảng 60 cm, lưng màu xanh sậm, thân màu bạc hay phớt xanh, màng vây màu xanh tím (đặc điểm chính để phân biệt với loài thanh long Borneo), tia vây màu đỏ nâu. Ở những cá thể trưởng thành, vùng xung quanh mắt chuyển sang màu xanh ngọc. Chúng thường có dạng đầu hình viên đạn. Xin lưu ý rằng đảo Borneo có cả hai loài thanh long là thanh long thường (Scleropages formosus) và thanh long Borneo (Scleropages macrocephalus). ![]() Thanh long (Scleropages formosus). ![]() Mẫu vật thanh long Việt Nam (còn gọi là cá mơn) thu thập ở vườn quốc gia Nam Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai (nguồn www.vncreatures.net). Kim long quá bối Kim long quá bối (crossback golden) còn được gọi là “kim long Malaysia”, đây là một trong hai giống cá rồng đẹp và mắc tiền nhất trên thị trường cá cảnh (loài kia là huyết long). Thật không may, đợt nghiên cứu của nhà khoa học Pouyaud và đồng sự vào năm 2003 đã bỏ qua giống cá này với lý do không có đủ mẫu vật để nghiên cứu. Vì vậy, giống này hiện vẫn được xếp chung với thanh long dưới tên khoa học Scleropages formosus, tuy nhiên, căn cứ vào các đặc điểm bề ngoài, chúng rất tương đồng với loài kim long hồng vĩ, điều này giúp suy đoán rằng cả hai có quan hệ họ hàng gần với nhau. Kim long quá bối phân bố ở bang Pahang và hồ Bukit Merah, bang Perak, Malaysia (có tài liệu còn liệt kê thêm các bang Johor và Trengganu). Chúng có đầu to và thân tương đối ngắn so với các giống cá rồng châu Á khác. So với kim long hồng vĩ, kim long quá bối có màu vàng sáng hơn và luôn phát triển lên đến hàng vảy thứ năm. Nhìn chung, một con kim long quá bối chất lượng phải có màu sắc trên vảy, nắp mang và vùng xung quanh mắt sáng và đều, màu sắc phát triển lên tới lưng, đặc biệt là vùng gần vây lưng khi cá còn rất nhỏ (dưới 15 cm). ![]() Địa bàn phân bố tự nhiên của kim long quá bối gồm bang Pahang và hồ Bukit Merah, bang Perak. Địa bàn phân bố tự nhiên của thanh long Nami ở hồ Muda, bang Kedah, Malaysia. Kim long quá bối được chia thành nhiều loại bao gồm “blue-based”, “purple-based”, “green-base”, “gold-based” và “silver-base” tuỳ thuộc vào màu sắc ở tâm vảy. Các loại “Blue-based” và “purple-based” là như nhau vì màu xanh hay tím là tuỳ vào góc nhìn, khi còn nhỏ loại cá này thường sậm màu. Những con có màu xanh đậm và sáng lan rộng trên vảy và nắp mang lớn lên sẽ rất đẹp. Với loại này, màu xanh ở tâm vảy thường lan rộng làm màu vàng trên viền vảy hẹp lại (thin-frame). Loại “gold-based” khi còn nhỏ thường có màu vàng nhạt, màu sắc của chúng phát triển lên lưng sớm hơn so với những loại khác. Loại này trông rất hấp dẫn bởi vì khi trưởng thành toàn thân vàng óng giống như thỏi vàng 24K di động! Với loại này, màu vàng đậm ở tâm vảy thường co lại làm màu vàng trên viền vảy rộng (thick-frame). ![]() Kim long quá bối loại nền vàng “gold-based” và vảy bản dày "thick frame". Thực tế, đôi khi rất khó phân biệt kim long quá bối thuộc loại nào kể trên vì ngày nay người ta lai chéo (cross breed) các loại với nhau. Việc lai chéo cũng giúp tạo ra những loại kim long quá bối đặc biệt như “platinum” và “royal blue”. Những loại mới này rất đẹp nên giá cũng rất cao và thường được bán qua các thị trường cao cấp như Nhật Bản và Đài Loan. Nhìn chung, kim long quá bối là một trong những giống cá rồng đắt nhất bởi vì chúng hiếm và sinh sản ít hơn so với những giống cá rồng khác. Để tham khảo, chúng tôi xin liệt kê bảng xếp hạng kim long quá bối của William Goh (http://dragonfish.com): - Hạng thường: loại “gold-based”, “blue-based” nhạt màu và các loại nền khác. Màu phát triển lên 50% hàng vảy thứ 5. Màu sắc nhạt hơn so với loại A và AA. Giá từ 2.000-2.800 đô-la/1 con 14-19 cm. - Hạng A: loại “emerald blue-based” tức nền xanh ngọc, loại “blue-based” xuất xứ từ hồ Bukit Merah và “gold-based”. Màu phát triển lên 50% hàng vảy thứ 5. Cá dưới 8 tháng tuổi và kích thước dưới 20 cm. Điểm quan trọng nhất đó là đầu cá phải có dạng “spoon head” và môi không bị trề. Giá từ 3.000-3.500 đô-la/1 con 14-19 cm. - Hạng AA: loại “emerald blue-based” tức nền xanh ngọc và loại “blue-based” xuất xứ từ hồ Bukit Merah. Màu phát triển lên toàn bộ hàng vảy thứ 5 và một ít “châu” xuất hiện ở gốc vây lưng. Cá dưới 8 tháng tuổi và kích thước dưới 20 cm. Điểm quan trọng nhất đó là đầu cá phải có dạng “spoon head” và môi không bị trề. Giá trên 3.800 đô-la/1 con 14-19 cm. - Hạng AAA: loại cá rất hiếm. Màu phải phát triển lên đến hàng vảy thứ 6 trên lưng và một ít “châu” xuất hiện ở gốc vây lưng. Cá dưới 8 tháng tuổi và kích thước dưới 20 cm. Điểm quan trọng nhất đó là đầu cá phải có dạng “spoon head” và miệng đều một cách hoàn hảo. Giá trên 10.000 đô-la/1 con 14-19 cm. - Hạng AAA: loại cá cực hiếm gồm “gold head”, “full gold” và “platium”. Màu phải phát triển lên đến hàng vảy thứ 6 trên lưng và một ít “châu” xuất hiện ở gốc vây lưng. Cá dưới 8 tháng tuổi và kích thước dưới 20 cm. Loại “gold head” có những vệt màu vàng trên đầu, loại “full gold” toàn thân màu vàng còn loại “platinum” toàn thân ánh bạc. Giá đặc biệt cao. ![]() Kim long quá bối loại “gold head” (nguồn www.sianlon.com). ![]() Kim long quá bối loại “platinum” và “full gold” (nguồn www.sianlon.com). Thanh long Nami Khi còn nhỏ, thanh long Nami (Nami green) có màu sắc tương tự như thanh long thường nhưng khi trưởng thành, trên nắp mang, vảy và vây ngực xuất hiện những hoa văn ánh kim trông rất hấp dẫn, mắt cá màu đỏ. Với những đặc điểm rất khác biệt này, thanh long Nami có nhiều khả năng là một giống cá rồng mới một khi các nhà khoa học tiến hành phân tích gen của chúng. Địa bàn phân bố tự nhiên của thanh long Nami ở đập Muda, bang Kedah (Tây Bắc Malaysia). Những con cá có hoa văn tương tự cũng được tìm thấy ở tỉnh Taninthayi, miền Nam Miến Điện và tỉnh Satun, miền Nam Thái Lan. Hiện nay, thanh long Nami chưa xuất hiện ngoài thị trường cá cảnh bởi vì những cá thể hoang dã bị cấm buôn bán; tuy nhiên, nhiều trang trại cá cảnh ở Malaysia đang tiến hành lai tạo chúng. Những thế hệ cá con ra đời trong môi trường nuôi dưỡng có gắn chíp và sẽ được phép xuất khẩu. Hy vọng là trong tương lai gần, người yêu thích cá rồng ở khắp nơi trên thế giới có thể sở hữu giống thanh long đặc biệt này. ![]() Thanh long Nami (nguồn www.petfrd.com). Cá lai tạp Vì các nguyên nhân kinh tế và kỹ thuật, người ta đã lai tạp những loài cá rồng châu Á với nhau. Sau đây là những loại cá lai khá phổ biến trên thị trường cá cảnh: - “Banjar red” hay huyết long loại 2 là cá lai tạp giữa huyết long với “yellowtail” hay thanh long. Loại cá này có vây và thân ửng hồng. - “Tong Yang” (SABF), “Red splendour” (Qian Hu), "Crossback splendour" (OTF), “Rose Gold” (DFI), là loại cá lai tạp giữa huyết long với kim long quá bối, chúng thường có màu cam ở nhiều cấp độ. “Red splendour” là một hạng mục dự thi trong triển lãm cá rồng thường niên do Qian Hu tổ chức. Cá rồng châu Úc Cá rồng châu Úc nhìn chung có vảy nhỏ hơn so với cá rồng châu Á. Mỗi bên thân cá rồng châu Úc có 7 hàng vảy so với 5 hàng vảy ở cá rồng châu Á. Đường bên cá rồng châu Úc có từ 32-35 vảy so với từ 21-25 vảy ở cá rồng châu Á. Một đặc điểm khác để nhận dạng đó là cặp râu cá rồng châu Úc không chỉa thẳng ra phía trước như cá rồng châu Á mà quặp xuống như râu dê. Khác với cá rồng châu Á và Nam Mỹ, cá rồng châu Úc cái làm nhiệm vụ ngậm và ấp trứng. Cá rồng châu Úc được biết là loài xác định lãnh thổ và hung dữ nhất trong số các loại cá rồng, đặc biệt là loài Scleropages leichardti. Chúng ta cần để ý đến yếu tố này khi nuôi chung cá rồng châu Úc với nhau và với những loài cá khác, tốt nhất là nên nuôi chúng riêng rẽ. Cá rồng châu Úc không nằm trong danh sách các động vật cần được bảo vệ. Thông tin và hình ảnh về chúng thường được tìm thấy trên các trang web giới thiệu về câu cá ở Úc! Giá cá rồng châu Úc từ 20-200 đô-la/1 con tùy theo kích cỡ và màu sắc. Trân châu long (Scleropages jardinii) Trân châu long (pearl arowana) còn được biết dưới các tên gọi khác như Gulf Saratoga hay Northern Spotted Barramundi. Loài này phân bố trong các con sông và dòng chảy đổ ra vịnh Carpentaria thuộc các bang Queensland và Northern Territory, châu Úc. Người ta còn ghi nhận sự xuất hiện của chúng ở vùng cực nam của đảo New Guinea. Chúng thích hợp với môi trường nước trong ở thượng nguồn các con sông. Kích thước tối đa của trân châu long là 90 cm nhưng khi nuôi trong hồ kính cá thường chỉ đạt khoảng 60 cm. Ở cá non vây thường có màu hồng nhưng khi cá trưởng thành màu hồng sẽ mất đi, nắp mang xuất hiện hoa văn vằn vện màu đỏ đồng. Lưng cá có màu xám phớt xanh hay nâu, thân màu đồng ánh vàng, màu sắc xuất hiện trên viền ngoài của vảy, các chấm trên mặt vảy màu vàng, cam hay đỏ và nằm sát với nhau tạo thành viền xen kẽ. Vây màu đen với những chấm lớn màu vàng cam hay đỏ. Trân châu long thường lưu hành trên thị trường cá cảnh dưới tên gọi "kim long Úc", đặc biệt có những con màu đỏ-nâu rất hiếm và đắt được gọi là "hồng long Úc". Cá thường sinh sản vào tháng 10, tức đầu mùa mưa ở Úc. Mối lần cá cái đẻ từ 50-100 trứng, cá cái ấp trứng trong khoảng 5 tuần. ![]() Địa bàn phân bố tự nhiên của trân châu long (vịnh Carpentaria và cực nam New Guinea) và hồng điểm long (lưu vực sông Dawson). ![]() Trân châu long hay kim long Úc (Scleropages jardinii) với đốm và hoa văn đặc trưng trên nắp mang (nguồn www.riverfront.ca). ![]() Trân châu long bạch tạng (nguồn www.indodragon.com). Hồng điểm long (Scleropages leichardti) Hồng điểm long (spotted arowana) còn được biết dưới các tên gọi khác như Spotted Barramundi hay Southern Saratoga. Loài này phân bố ở lưu vực sông Dawson/Fitzroy, đông bắc bang Queensland (hình trên). Khác với trân châu long, hồng điểm long ưa thích môi trường nước đục ở các ao hồ và đầm lầy có thực vật thuỷ sinh mọc trên bề mặt. Kích thước tối đa của hồng điểm long là 90 cm. Nắp mang không có hoa văn. Lưng cá có màu xám phớt xanh hay nâu, thân màu xanh lá cây nhạt, mặt vảy có từ 1-3 chấm màu đỏ cam nằm ở trung tâm nên nhìn tổng thể thân cá sẽ thấy những đốm đỏ riêng rẽ thay vì viền xen kẽ như ở trân châu long. Vây có viền đen với nhiều chấm nhỏ màu đỏ cam. Lưng hồng điểm long phẳng hơn so với trân châu long. Hồng điểm long sinh sản vào tháng 8 và 9 hàng năm. Số lượng trứng và thời gian ấp cũng tương tự như ở loài trân châu long. Loài này ít phổ biến trên thị trường cá cảnh so với loài họ hàng của chúng là trân châu long. ![]() Hồng điểm long (Scleropages leichardti)(nguồn www.aquaticpredators.com). Cá rồng Nam Mỹ Cá rồng Nam Mỹ phân biệt với cá rồng châu Á và châu Úc ở bộ vây. Ở cá rồng Nam Mỹ, Vây lưng và vây hậu môn bắt đầu từ phần giữa thân và chồng xếp lên vây đuôi tạo ra cảm giác chúng là một dải liên tục, vây ngực và đuôi nhỏ so với thân mình. Trong khi ở cá rồng châu Á và châu Úc, vây lưng và vây hậu môn ngắn và lùi xa về phía sau, vây ngực và đuôi khá lớn so với thân mình. Tuổi thọ của cá rồng Nam Mỹ có thể lên đến 20 năm. Ngoài môi trường tự nhiên, cá rồng sống ở sông rạch và đầm lầy. Khi mực nước rút, chúng có thể tụ tập thành bầy đi săn mồi. Khi nước lên, cá rồng tản mác đi khắp nơi. Chúng săn mọi loại thức ăn nổi trên mặt nước như cá nhỏ, côn trùng, ếch nhái, thậm chí cả chim, bò sát và thú non, nói chung là tất cả những gì vừa với miệng của chúng! Ngân long (Osteoglossum bicirrhosum) Cá ngân long (silver arowana) phân bố ở lưu vực sông Amazon, sông Rupununi (Guyana) và Oyapock (French Guyana), Nam Mỹ. Loài này có kích thước tối đa 1.2 mét, vảy to, hàm dưới trề, thân hình trông giống như con dao bầu và không nằm trong danh sách các loài cá phải bảo vệ. Khi còn nhỏ, thân cá thường có những lằn xanh ánh kim và cam, đầu và vây có những đốm đen, viền vây màu hồng. Khi trưởng thành, cá chuyển sang màu ánh bạc. Cá đực có vây hậu môn dài và nhọn hơn cá cái. Cá ngân long có giá thành tương đối rẻ, 20-25 đô-la một con nên chúng là loài cá rồng được nuôi phổ biến nhất. Tuy nhiên, tài liệu nghiên cứu gần đây ở Peru (Moreau & Coomes, 2006) cho thấy tình trạng khai thác cá rồng đến cạn kiệt đang diễn ra, bên cạnh đó người dân địa phương thu hoạch cá ngân long non bằng cách... chặt đầu cá bố để tránh chúng nuốt con vào bụng. Các hạn chế săn bắt tạm thời của nước sở tại trong thời gian cá sinh sản tỏ ra không có tác dụng. Hiện tại, người ta đang vận động đưa cá ngân long vào danh mục các loài cá cần được bảo vệ tương tự như cá rồng châu Á và cá khổng tượng Arapaima gigas. Nếu điều này thành sự thực thì giá cá ngân long trong tương lai có thể sẽ tăng cao. ![]() Địa bàn phân bố tự nhiên của cá ngân long: lưu vực sông Amazon (vùng màu xanh) và các nước Guyana, French Guyana ở phía Đông Bắc. Cá hắc long chỉ phân bố trong nhánh sông Negro. ![]() Ngân long (Osteoglossum bicirrhosum). ![]() Cá ngân long leucistic. Hắc long (Osteoglossum ferreirai) Cá hắc long (black arowana) phân bố ở lưu vực sông Negro (hình trên), một nhánh thuộc sông Amazon. Cá hắc long có hình dạng tương tự như cá ngân long nhưng vây và thân có màu đen khi cá còn non. Khi cá trưởng thành, thân chuyển sang màu xám, vây màu phớt xanh nên có người còn gọi chúng là "blue arowana". Cá hắc long hơi nhỏ hơn cá ngân long, chúng có kích thước tối đa 1 mét. Cá hắc long có giá tương tự như cá ngân long nhưng những con cá non có vây xanh lại được bán với giá khá cao, khoảng 500 đô-la/1 con 25 cm. ![]() Hắc long (Osteoglossum ferreirai). ![]() Những con hắc long có vây màu xanh khi còn khá nhỏ như trên được người ta gán cho tên mới "blue arowana" (Osteoglossum cf. ferreirai) với mục đích thương mại. Bởi vì không hề có chứng cớ khoa học nào hỗ trợ cho điều này nên thực chất chúng chỉ là cá hắc long (Osteoglossum ferreirai) mà thôi (nguồn www.aquarist-classifieds.co.uk). |
| Đã có 46 thành viên gửi lời cảm ơn tới genta vì bài viết hữu ích này: | ||
Aka_999, anhtuantcl2, arowanaUSA, baoanh, BànhTiếnLong, blackbox, broadzone, Cavangsutu, Cá cảnh VN, david_cz0212, dungtien, green, hainam207, hakin, hdh206, hp_damme, huagia, kybuulai, LaHanRussian, m.hung, mrju, ndm1965, ngothehung, nguyen huy, nguyenngocdung1972, npn123, NV.HanhD, phuochoi, QuachDinhHa, quochuyct, qvd, sonanh2030, songhannt, tanphu_catv, thong mai, THUANTH, trantien1368, trungarow, Tuanhht, tudaubac, Vanhd, Van_Hieu, vjpsockcuteboy, votinh6789, VuongGiaLong, zipbo999 | ||
|
||||
|
SÁCH CÁ RỒNG : THE MILLENNIUM DRAGON by William Goh & Julia Chua . Phiên dich bởi Moneyless
CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU CÁC GIỐNG LOẠI CÁ RỒNG CHÂU Á
![]() Cá rồng Châu Á (Scleropages Formosus) là giống loại cá rồng có nguy cơ bị tuyệt chủng nơi hoang dã và được bảo vệ bởi CITES (Hội Nghị Công Ước Quốc Tế Về Giao Thương Các Giống Loại Động Thực Vật Hoang Dã Đang Có Nguy Cơ Bị Tuyệt Chủng) từ năm 1980 . Lý do cá rồng Châu Á có tên trong sổ đỏ của các động thực vật cần phải được bảo vệ bởi CITES là vì trong thập niên 1970’s, số lượng các giống loại cá rồng Châu Á ngoài thiên nhiên hoang dã đã tuột dốc đến mức độ nguy hiểm và báo động vì chúng bị săn lùng, đánh bắt quá mức vì giá trị kinh tế của chúng . Người Trung Hoa tin cá rồng Châu Á có khả năng “trừ tà”, giải tỏa những chuyện không may cho gia chủ, vì thế khi sở hửu và chăm sóc chúng tốt, gia chủ đổi lại sẽ có được sự “bảo vệ” của giống loại cá rồng này . Chỉ có huyết long, kim long quá bối, kim long hồng vỹ, thanh long , và thanh long chỉ vàng (yellow tail arowana) bên Nam Á là được cho vào sổ đỏ để được bảo vệ, được giới thưởng ngoạn ưa chuộng, vì thế người chơi phải tốn một số tiền không nhỏ để sở hửu chúng . Một giống loại cá rồng có họ với cá rồng Châu Á là kim long Châu Úc (Scleropages jardini, và Scleropages leichardti), không được bảo vệ bởi CITES, vì số lượng của loại kim long Úc nơi hoang dã rất nhiều nên giá trị kinh tế cũng vì thế thấp nếu so với giá cả của cá rồng Châu Á . Ngân long và Hắc long có nguồn gốc từ Nam Mỹ cũng là bà con có họ xa với giống cá rồng Châu Á, cũng không được bảo vệ bởi CITES, và có giá trị kinh tế thấp nhất trên thị trường . Trong chương này, các chi tiết được đào sâu thêm và tìm hiểu trong chi tiết sẽ được tập trung vào các giống loại khác nhau của cá rồng Châu Á . Trên nguyên tắc, có thể phân loại cá rồng Châu Á theo 3 màu sắc chủ yếu : Vàng, Đỏ, và Xanh . Dưới dạng kim long, cá rồng được phân ra làm 2 loại : Quá bối và Hồng Vỹ . Dưới dạng huyết long, chúng được phân ra làm 2 loại chủ yếu : huyết long máu và huyết long ớt . Dưới dạng thanh long, trên nguyên tắc chỉ có một giống loại và đó là thanh long . Thanh long chỉ vàng, thường được phân loại như là thanh long, vì chúng nhìn rất khác xa khi so sánh với kim long và huyết long . KIM LONG QUÁ BỐI Kim long quá bối chỉ tìm thấy trong thiên nhiên hoang dã tại Malaysia, và là giống loại cá rồng Châu Á đắt tiền nhất để sở hửu . Mặc dầu huyết long rất khó khăn để ép giống thành công, nếu không nói là khó nhất trong các loại cá rồng, nhưng khi so sánh về giá cả cũng phải xin chào thua quá bối . Tên thông thường được gọi cho quá bối tại quê hương nguyên thủy của chúng là Malayan lưỡi có xương (Malayan Bonytongue) hay Malaysian Golden . Giống loại này chỉ được ép giống và nuôi tại các trại cá rồng tại Malaysia và Singapore . Vì thế, số lượng của chúng trong các trại cá cũng không được nhiều . Giống quá bối quá nổi tiếng vì một đặc điểm là sự uy nghi, đặc thù chỉ có quá bối mới có được là khi trưởng thành, toàn thân cuả quá bối sẽ là màu vàng ròng 24K, tượng trưng cho sự quý phái của các bậc đế vương . Giống loại quá bối này thường được gọi là vàng ròng 24K (24K gold). Để so sánh, bà con họ gần nhất với quá bối là kim long hồng vỹ(klhv), chỉ có thể có viền vàng lên đến vẩy hàng thứ 4 . Vẩy hàng thứ 5 và 6 của klhv sẽ có màu đen đặc thù cho giống loại này . Đồng thời độ vàng kim óng ả của klhv không thể nào so sánh được với màu vàng của quá bối . Nếu màu vàng của quá bối là màu của vàng ròng 24 K, thì màu vàng của klhv là màu vàng của 12K . Phần vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi của quá bối và klhv sẽ nhìn tương tự như nhau, với màu xanh đậm hay đen cho vây lưng và 1/3 phần trên của vây đuôi . Các vây còn lại sẽ có màu đỏ cam . Trong môi trường sống ngoài thiên nhiên như sông ngòi, ao hồ, những điểm về màu sắc vừa nêu trên của quá bối sẽ có thay đổi đôi chút . Vì phải sinh sống dưới ánh nắng mặt trời gần 12 tiếng mổi ngày, 365 ngày một năm, một số quá bối sẽ có sống lưng đen như klhv, tuy nhiên khi được mang vào nuôi dưỡng trong môi trường bể kiếng với phông nền với các màu sắc đậm, màu vàng ánh kim của vẩy hàng thứ 5th và 6th sẽ trở lại trong khoảng 2-4 tháng . Vì thế, các nhân viên trại cá rồng với ý định sẽ mang cá đi dự thi, triển lảm, hay chụp ảnh quảng cáo thương hiệu, sẽ thuyên chuyển những con quá bối đã được chọn vào trong môi trường bể kiếng trong vài tháng trước ngày trọng đại để chuẩn bị . Khi còn non (12-20cm), rất khó để có thể phân biệt giữa quá bối nền xanh, tím, vàng hay xanh lá cây . Một con quá bối với vẩy nền tím sẽ nhìn có màu tím nhiều hơn vàng khi quan sát từ một khoảng cách nào đó . Màu vàng sẽ chỉ là màu của thành viền của vẩy, trong khi màu nền của vẩy sẽ là màu tím . Thành viền của vẩy quá bối còn có thể phân loại theo thành viền mỏng (thin frame) hay thành viền dầy (thick frame) . ![]() Mổi người có một sự lựa chọn , và xấu đẹp của mổi loại thành viền còn tùy thuộc vào cặp mắt của người thưởng ngoạn . Vì thế rất khó để có thể nói quá bối với thành viền mỏng sẽ đẹp hơn thành viền dầy hay ngược lại . Hầu hết, quá bối khi còn non sẽ nhìn như có nhiều màu ánh tím, nhưng ánh màu này có thể sẽ thay đổi khi chúng lớn . Vì thế, kể cả các nhân viên trại cá hay người sành điệu cũng chỉ có thể đoán được tương lai về màu sắc của quá bối với khoảng 70-80% độ chính xác khi chúng trưởng thành là màu gì . Những phỏng đoán về màu sắc của quá bối sẽ chính xác hơn khi cá đạt được kích thước từ 25cm trở lên . Ngoài màu nền chủ yếu của vẩy là màu nền tím, một số ít quá bối sẽ có màu nền màu xanh nước biển, vàng hay xanh lá cây . Một con quá bối có kích thước 20cm , với thành viền mỏng vẩn có thể biến dạng thay đổi thành thành viền dầy khi đạt được kích thước khoảng 30-40cm . Vì thế khi chọn mua cá rồng quá bối, ta nên lựa chọn cho thật cẩn thận và hãy yêu quý chúng không cân biết màu sắc sau này của quá bối lúc trưởng thành sẽ là màu gì . Trong các màu nên của quá bối, màu nền vàng thường rất hiếm, và khi hoàn toàn trưởng thành, quá bối nền vàng sẽ trở nên một thỏi vàng ròng 24K biết bơi, và chúng rất có khả năng làm choáng ngạt người xem . Mặc dầu không tuyệt đối chính xác 100%, có vài đặc điểm mà quá bối nền vàng cần phải có khi còn non, mà người chơi có thể xem xét . Những đặc điểm đó như sau: 1. Tất cả vây của quá bối nền vàng cũng như vẩy cá trên cơ thể cũng sẽ có màu nhạt hơn 2. Khi nhìn quá bối nền vàng lúc còn non từ xa, chúng sẽ nhìn có vẻ vàng hơn là xanh/tím . 3. Viền xoang bao bọc đồng tử (tròng đen) của quá bối nền vàng thường sẽ phải là màu vàng . Vì thế, nếu viền xoang mắt bao bọc tròng đen của quá bối nếu có màu đỏ, thì không thể nào là quá bối nền vàng được . Tương tự như trong các thú vật và cá kiểng khác, trại cá rồng đánh giá quá bối theo một vài tiêu chuẩn nhất đinh . Đối với quá bối chúng thường được đánh giá như sau : Cường độ của màu ánh kim và vẩy hàng thứ 5th lên màu nhanh hay chậm sẽ có yếu tố quyết định . Vì thế một con quá bối với kich thước 12cm mà màu sắc của vẩy hàng thứ 5th đã lên màu phân nữa dĩ nhiên sẽ có giá trị và đắt hơn là con quá bối 20cm mà màu sắc của vẩy hàng thứ 5th chỉ mới vừa nhú lên . ![]() Ngoài ra, một số quá bối sẽ có màu sáng của ánh kim loại (metallic sheen) trên cơ thể của chúng . Những con quá bối có đắc tính này rất hiếm và thường được gọi là ánh kim loại xanh (metallic blue), hay ánh kim loại bạc trắng (platinum) . ![]() Và dĩ nhiên có những con quá bối với màu xanh dương-xanh lá cây trên cơ thể và chúng thường được gọi là “Emerald Blue” (tạm dịch là hoàng thạch xanh) hay vẩy có màu tím đậm còn được gọi mà “Bukit Merah Blue” . NHỮNG THẮC MẮC THƯỜNG ĐƯỢC HỎI VỀ QUÁ BỐI Một thắc mắc thông thường được hỏi là “ Quá bối ngoài hoang dã có đẹp hơn quá bối được nuôi trong môi trường nhân tạo ?” Câu trả lời thường sẽ là “không” . Lý do- người chơi cá rồng vì bất cứ một lý do gì có thể thả con cá quá bối không được hoàn hảo của họ về với thiên nhiên . Trong hoang dã những con quá bối không được đẹp này có thể sẽ bắt cặp với huyết long, klhv, thanh long và tạo nên những con quá bối lai tạo không được đẹp cho lắm với những màu sắc yếu kém, không giống cả bố lẩn mẹ . Chỉ có cá quá bôi bán ra từ trại cá có tiếng đã được chọ lựa kỷ càng trước khi được cho ép giống là nên đáng được người thưởng ngoạn lựa chọn và thu mua . Môt câu hỏi khác “ Làm sao tôi có thể biết sự khác biệt giữa quá bối hoang dã và quá bối có nguồn gốc từ trại cá ? “ Cá quá bối hoang dã sẽ có phần đầu tròn hơn . Cặp râu của quá bối nơi hoang dã sẽ dài hơn vì chúng được xử dụng nhiều trong chức năng săn mồi . Màu sắc của quá bối hoang dã sẽ rất nhạt nhòa không ấn tượng vì phải sinh sống dưới ánh nắng mặt trời . Tuy nhiên nếu được nuôi dưỡng trong môi trường bể kiếng, thì chỉ trong vài tháng, tiềm năng màu sắc của quá bối sẽ thay đổi như đã đề cập . Cuối cùng “ Làm sao tôi có thể lựa quá bối với phẩm chất cao ?” Đầu tiên bạn phải xác quyết đay là con quá bối chứ không phải là klhv . Khi ở kích thước từ 15-20cm, các hạt trai li ti giáp cận với vây lưng phải có . Đặc điểm này vô cùng quan trọng khi lựa chọn và mua quá bối, vì đây là nơi mà hàng vẩy thứ 6th sẽ xuất hiện đầu tiên . Nếu cá đã được 20-25cm, mà chưa có đặc điểm này, thì bạn nên nghi ngờ ngay lập tức ! Kế tiếp là vẩy của quá bối phải rực sáng và có đặc tính phản xạ ánh kim khi so sanh với klhv . Về giá cả, quá bối phải đắt hơn klhv từ 4-5X cho một con quá bối với phẩm chất trung bình . Vì thế nếu bạn thấy một con quá bối mà giá được bán ra quá hời thì hãy nên cẩn thận . Xin lưu ý là quá bối platinum sẽ đăt gần gấp đôi giá con quá bối trung bình . Câu “tiền nào của nấy “ rất đúng trong trường hợp này . Cá quá bối có nhữn đặc điểm càng hiếm thì càng có nhiều người ưa chuộng và giá sẽ càng cao . Một khi bạn đã biết chắc chắn 100% đây là quá bối thì hãy xem xét thêm các điểm sau đây : 1. Vóc dáng của cá rồng kim long quá bối phải thon dài và bản rộng , cân bằng và vây thật to . 2. Vây đuôi, vây lưng và vây hậu môn phải thật to và bung xòe . Tất cả những đường chỉ đen trên 3 vây này phải đậm nét và rõ ràng . 3. Các hàng vẩy trên cơ thể cá phải rực sáng, và có đặc tính phản xạ . Càng sáng càng tốt . 4. 3 lằn chỉ vàng phía trên đôi mắt phải là màu vàng đậm . 5. Nếu bạn đang dự tính mua cá quá bối với kích thước từ 20cm trở lên, hàm dưới của nên có lằn chỉ vàng chạy dọc theo viền của hàm dưới . Đặc điểm này hiếm, nhưng nếu có được thì đây là một trong những dấu chỉ của một con quá bối đầy tiềm năng . @Xin các bạn lưu ý 5 điểm cuối cùng trong bài viết khi chọn quá bối . Đó là những điểm ít được người chơi cá quá bối lưu ý khi chọn mua cá rồng . Nhất là điểm 2, 4 và 5 . Đồng thời cũng xin lưu ý các bạn nào đang muốn chọn cho mình thỏi vàng biết bơi trong tương lai, thì xin lưu ý viền vàng vòng quanh con ngươi tròng đen của hai con mắt cá . Vô cùng quan trọng . Tôi gởi bạn nữ_nhân_ngư và các bạn vài tấm ảnh minh hoạ những điểm để nhận biết vài phân loại của quá bối và sự khác biệt khi so sánh vẩy của quá bối và KLHV Ảnh minh hoạ của full gold xback (aka cục vàng ròng 9999 24K biết bơi) Phần giữa viền trong tiếp cận với tròng đen và viền bao bọc bên ngoài chứa nhiều sắc màu vàng . Đặc điểm của full gold . (cuc vàng 999 24k) ![]() Ảnh của quá bối nhưng không phải sẽ là cục vàng ròng biết bơi trong tương lai . Xin lưu ý viền trong giáp cận với tròng đen, và viền ngoài kế tiếp . Chứa đựng nhiều màu đỏ . ![]() Xin lưu ý những màu sắc đỏ trong hai lằn viền tiếp cận bên trong với tròng đen, và viền ngoài . ![]() So sánh hàng vẩy của quá bối và KLHV . Vẩy của quá bối nhìn rực sáng và độ phản chiếu rực rở hơn của KLHV . Hàng vẩy của quá bối ![]() Hàng vẩy của KLHV( vàng 12K), không thể nào so sánh được với sự rực sáng và phản chiếu của vẩy khi so sánh với quá bối . ![]() Vây lưng, đuôi và hậu môn của quá bối phải đậm nét và bung xoè , càng to càng tốt . Xin lưu ý các đường xương chỉ trên vây, rất đậm đen và rỏ nét ![]() ![]() HUYẾT LONG (SUPER RED) CHƯƠNG I (tiếp nối) ![]() HUYẾT LONG (SUPER RED) Hiện tại huyết long đứng hàng thứ hai sau quá bối về giá cả, huyết long trong quá khứ đã có lúc còn đắt hơn cả quá bối . Thời gian phải chờ đợi, từ 4-6 năm, để cho huyết long trưởng thành và ép giống là lý do tại sao huyết long đã quá đắt trong quá khứ . Tuy nhiên, ngày nay, vì các trại cá rồng đang có giấy phép của CITES để nuôi , ép giống và kinh doanh tại Singapore, Maylaysia, và Indonesia đã tạo nên thặng dư và làm chên lệnh cán cân cung va cầu, nên giá thành của huyết long đã phần nào giảm bớt rất nhiều . Huyết long có nguồn gốc nguyên thủy từ tỉnh Kalimantan của Indonesia . Huyết long từ Kalimantan quả thật là một kỳ công của tạo háo . Huyết long mang lại may mắn và thịnh vượng cho gia chủ chỉ là một trong nhiều lý do tại sao chúng đã trở nên quá nổi tiếng và được yêu thích khắp thế giới . ![]() ![]() Huyết long thường được biết qua tên phổ thông là huyết long loại 1 . Loại này sau khi trưởng thành khoảng đô 3-4 năm tuổi hay đôi lúc lâu hơn thì phần nấp mang, vây lưng, hậu môn và đuôi , cùng với các hàng vẩy trên cơ thể sẽ chuyển màu thành màu đỏ rực . Ấn tượng khi thấy một con huyết long, thuần chủng thật to lớn uy nghi và oai vệ bơi lội trong bể quả thật là một hình ảnh khó quên cho nhiều người . Vẻ đẹp của huyết long quá quyến rủ đến độ như bị nghiện cho những người yêu thích chúng được biểu hiện qua bằng chứng là chúng luôn được giới thưởng ngoạn săn lùng để mua . Tương tự như kim long quá bối, huyết long cũng được phân ra làm hai loại : huyết long máu và huyêt long ớt . Cả hai giống loại này được tìm thấy ở hai địa dư khác nhau của giòng sông Kapuas, và hô Sentarum ở tỉnh Kalimantan . ![]() Huyết long máu có nhiều hơn về số lượng, nên giá cả của chúng cũng vì thế mà rẻ hơn đôi chút so với huyết long ớt . Huyết long máu có vóc dáng thon thả, và thân hình dài hơn huyết long ớt . Cặp mắt của chúng cũng nhỏ hơn, đồng thời phần đầu và hàm miệng của huyết long máu khi giao nhau không sắc cạnh bằng như của huyết long ớt . Về phần màu sắc đỏ, huyết long máu sẽ lên màu nhanh hơn huyết long ớt, nhanh nhất có thể từ 1 năm và kéo dài cho đến 3 năm . Khả năng lên màu đỏ sớm là lý do tại sao huyết long máu rất được ưa chuộng trong giới chơi cá rồng . Khi trưởng thành, sống lưng của huyết long máu sẽ có độ đố dốc thoai thoải từ phần lưng đổ xuống phần đâu, trong khi một số huyết long ớt sẽ có độ gù, trên lưng tiếp cận với phần đầu mà thường được gọi là “đầu muổng” (spoon head) . Tuy nhiên, không phải bất cứ con huyết long ớt nào cũng phải có đầu muổng . Huyết long ớt khan hiếm hơn về số lượng, nên giá cũng sẽ đắt hơn huyết long máu . Huyết long ớt có những đặc tính sau đây: phần đầu giao tiếp với hàm miệng rất sắc cạnh, vây/kỳ sẽ to lớn hơn, mắt to, bản dầy và vây đuôi có hình quả đào hay đuôi hình kim cương (diamond shape tail) . Giống loại huyết long ớt rất nổi tiếng và được ưa chuộng tại Nhật, mặc dầu màu sắc đỏ của huyết long ớt thường lên màu chậm hơn huyêt long máu . Thông thường huyết long ớt cần khoảng 2 năm tuổi để có thể thấy được màu sắc đỏ, và đôi khi phải chờ đợi từ 3 và thậm chí đến cả 5 năm để cho huyết long ớt lên màu . Huyết long ớt vì thế sẽ không thích hợp cho các bạn nào không có sụ kiên nhẩn, và chỉ muốn thấy màu đỏ nơi cá huyết long trong một thời gian ngắn . Có một số người cho rằng đầu muổng là một đặc điểm xấu và không chấp nhân được, nhưng thích hay không, tùy theo cặp mắt của mổi người thưởng ngoạn . ![]() Như tất cả các giống loại cá rồng Á Châu, trại cá cũng có những tiêu chuẩn để đánh giá phẩm chất của huyết long . Ví dụ, một con huyết long có tên gọi là Ruby red (huyết long xanh/tím) , có vây , môi, cặp râu thật đậm đỏ, và hàng vẩy màu xanh đậm sẽ có giá rất cao ở kích thước từ 12-15cm . Loại Ruby Red này giá còn đắt hơn cả loại quá bối hạng trung bình . Vì thế, đối với những con huyết long có phẩm chất thuộc hàng tuyệt phẩm, sẽ nhìn đẹp, và đắt giá hơn bất kỳ con quá bối nào . Tương tự như thê, giống loại kim long hồng vỹ nếu vì vài đặc điểm hiếm quý và đẹp nào cũng có thể đắt giá hơn huyết long . Sự đột biến của genes, và kết quả của ép giống đồng huyết thường tạo nên những bất ngờ tuyệt vời . Ruby Red ![]() ![]() NHỮNG THẮC MẮC VỀ HUYẾT LONG THƯỜNG ĐƯỢC HỎI Sư phát triển về màu sắc của huyết long thường là chủ đề rất thú vị và đầy kịch tính . Có bạn sẽ rất may mắn khi sở hửu một con huyết long mà chỉ trong 1 năm đã lên màu đỏ (cực hiếm) . Trong khi đó, những bạn khác thì không được may mắn như thế, và thời gian chờ đợi từ 4-5 năm là chuyện thường tình . Rất nhiều bạn thường than phiền rằng : “cá tôi đã nuôi được 3-4 năm mà chẳng thấy màu đỏ nơi đâu ? “ “Cá tôi chỉ có màu cam nhạt, còn màu đỏ đâu thì chẳng thấy ?” Có phải những bạn này đã bị lường gạt bởi trại cá hay lái cá ? Câu trả lời là “rất có thể” và “không” . Câu trả lời “rất có thể” đã bị lường gạt nằm trong phần phân tách sau đây . Huyết long thường được cho nhân giống với kim long hồng vỹ hoặc thanh long hay thanh long chỉ vàng với mục đích để nâng cao phẩm chất và tạo thêm sắc tố đỏ nơi vi kỳ của thanh long hay thanh long chỉ vàng . Kết quả của cuộc tình có tính toán này thường cho ra bọn hậu duệ với hàng vẩy trên cơ thể như thanh long hoặc thanh long chỉ vàng, không có chi thay đổi . Bầy hậu duệ này sẽ được phân loại là huyết long loại 1.5 thay vì là huyết long loại 1. ![]() Huyết long loại 1, đúng huyết thống thường chỉ có thể đi vào chu kỳ sinh sản vào lúc 4-5 năm tuổi hay cao hơn . Tuy nhiên một khi đã bị lai tạo với một giống loại khác, bon hậu duệ huyết long 1.5 giờ đây sẽ có thể “biết yêu” ở tuổi sớm hơn vào năm thứ 3 . Vì thế , thời gian chờ đợi sẽ được rút ngắn lại gần phân nữa và giá cả của loại này cũng vì thế mà rẻ hơn rất nhiều .Các trại cá sản xuất loại huyết long 1.5 cho thị trường cá rồng thường là các trại không đủ vốn kinh doanh . Người tiêu thụ khi yêu thích huyết long, nhưng không đủ khả năng tài chánh , thì sẽ đành ép lòng chịu mua huyết long 1.5 . Vì thế trong những lần đi tham quan, khảo giá thị trường, bạn bất chợt thấy một con huyết long nhìn cũng đẹp, nhưng giá tiền thì chỉ bằng 1 phần nào của giá cả huyết long trên thị trường, bạn nên cẩn thận . Một số lái cá ranh mảnh hoặc rất có thể cả chủ tiệm cá cũng chẳng biết vì kém kiến thức về cá rồng, sẽ bán cho bạn con cá rồng đó như là huyết long loại 1, nhưng thật ra chỉ là huyết long loại 1.5 . Màu sắc của loại huyết long 1.5 này , cứ mổi năm trôi qua, màu sắc càng phai nhạt đi, trong khi huyết long chính thống thì màu sắc càng tăng theo với thời gian . Còn về phần câu trả lời “không” , bạn không bị gạt nằm trong phần phân tích như sau : huyết thống, phẩm chất của nước, thức ăn và ánh nắng mặt trời đều có những tác động lên màu sắc của huyết long . Nếu chế độ dinh dưỡng của huyết long thiếu vắng chất beta-caroteine là nguyên nhân chính tạo nên màu sắc đỏ quá mờ nhạt, chậm trể . Thức ăn có nhiều nguồn beta-caroteine này là từ tôm tép . Dế và sâu quy cho ăn cà rốt, và sau đó đem cho huyết long ăn cũng hửu hiệu như cho ăn tôm tép . Ánh sáng mặt trời cũng có tác động quan trọng lên màu sắc của huyết long . Nếu nuôi huyết long trong nhà, thì đèn của bể cá nên được bật lên vài tiếng trong một ngày . Nếu làm thế trong một thời gian dài, ánh đèn sẽ có tác dụng tốt với màu sắc của huyết long . Nếu huyết long của bạn là thuần chủng với huyết thống của HL 100%, thì sự phát triển của màu đỏ sẽ trải qua từng giai đoan . Thông thường, những chấm nhỏ li ti sẽ xuất hiện trên viền của các hàng vẩy . Trong giai đoạn đầu, những chấm nhỏ này sẽ là màu vàng, và sẽ chuyển qua màu cam . Trong một thời gian nhất đinh, những chấm vàng cam này sẽ kết nối lại và sẽ bao phủ phần viền của các hàng vẩy trên cơ thể cá . Màu hồng cam trên nấp mang sẽ xuất hiện từng đốm lổm chổm cùng với màu vàng và bạc . Giai đoạn chuyển tiếp của màu cam có thể kéo dài đến cả vài năm . Đây là thời điểm mà các bạn chơi huyết long sẽ cảm thấy chán nản, thất vong, và mất niềm tin, cũng như nghi ngờ về nguồn gốc của con huyết long đang sở hửu . Theo như kinh nghiệm cũng như quan điểm của người viết, nhẩn nại là đức tính cần phải có cho những ai chơi cá rồng huyết long . Sụ kiên nhẩn của bạn cuối cùng sẽ được tưởng thưởng xứng đáng . Tôi xin kể cho bạn nghe một mẩu chuyện ngắn về con cá huyết long của một nha sĩ bên Nhật . Con cá của ông ấy chỉ là một màu vàng cam , đây là màu của giai đoạn chuyển tiếp . Và con cá huyết long này cứ trơ trơ trong giai đoạn ởm ờ này trong thời gian kỷ lục là 9 năm . Một ngày nọ, con cá màu vàng cam kia thật sự chuyển mình hóa rồng đỏ, và trở nên màu đỏ rực như máu . Đây không phải chỉ là một câu chuyện riêng lẻ, mà thường rất xảy ra cho giống huyết long . Chúng sẽ chuyển từ màu cam sang màu đỏ rực chỉ trong khoảng vài tuần, khi giai đoạn chuyển tiếp đã chấm dứt . Tôi tin lúc ấy các bạn sẽ biết quý và yêu thích cá huyết long của bạn hơn . KIM LONG HỒNG VỸ ![]() Ảnh trên của trại Tung Hu chuyên trị KLHV, và đặc điểm của trại này là thường cho ra loại CLHV như thấy trong ảnh KIM LONG HỒNG VỸ Thông thường, còn được gọi là rồng vàng Indonesia (Indonesian golden), hay rồng vàng Sumatra (Sumatra golden) , để phân biệt với kim long quá bối có nguồn gốc từ Malaysia. Ngày hôm nay, giống loại cá rồng nay đã được nuôi thành công tại Indonesia, Singapore và Malaysia, nên hiện tại chúng được gọi chung là kim long hồng vỹ (Red Tail Golden) . KLHV có giá rẻ hơn huyết long và quá bối nhung đắt hơn thanh long (green arowana) và thanh long chỉ vàng (yellow tail arowana) . Mấy năm gần đây, do sự thành công trong việc ép giống loại cá rồng này từ các trại cá, nên số lượng cá klhv được nuôi dưỡng tại các trại cá đâm ra thặng dư, và đó là lý do tại sao người chơi thấy giá cả của klhv đã phần nào giảm đi khá nhiều so với những năm trước đây . Nếu phải bình luận tổng hợp về phẩm chất, vẻ đẹp cũng như giá cả cùng trong môt câu nói cho tất cả các loại cá rồng Châu Á, thì KLHV quả thật xứng đáng đoạt ngôi vị này, vì với giá phải chăng, vừa túi tiền phần đông người chơi, mà nét đẹp thì cũng không kém phần quyến rủ, hớp hồn người thưởng ngoạn . Giá của klhv kém xa giá của quá bối và huyết long , tuy có hơi đắt hơn thanh long, nhưng vẻ đẹp của klhv rất xứng đáng với giá cả đang được bán trên thị trường . Ta có thể phân biệt sự khác biệt giữa quá bối và klhv ở kích thước 12-15cm khi quá bối vơi phẩm chất tốt ở kích thước này, thì phần tiếp cận với vây đuôi bắt đầu có sự lên màu hạt trai (pearlies) . Nếu địa dư, phong thổ và tập tục cũng như văn hóa của khu vực ảnh hưởng và hun đút tâm tính của con người, thì các dòng sông bên Indonesia cũng có những ảnh hưởng tương tự lên màu sắc của KLHV . KLHV từ hai dòng sông Tapung và Siak gần sông Pekanbaru của đảo Sumatra sẽ có hàng vẩy trên sống lưng với kích thước nhỏ , ngược lại KLHV từ sông Kanmpar sẽ có hàng vẩy trên sống lưng lớn hơn . KLHV từ hai dòng sông Rokan và Bangko thì thông thường sẽ có vây/kỳ đỏ đậm hơn . Đó là màu sắc của vây/vI/kỳ, và đặc điểm của hàng vẩy thứ 6th của các giống loại KLHV sinh sống trong thiên nhiên hoang dã . Trong các trại cá rồng tại 3 nước vừa nêu trên, KLHV không được phân biệt như thế mà chúng được nuôi chung với nhau, và kết quả là những gì mà các bạn đang thấy được bày bán trên thương trường . KLHV thuần chủng đúng 100% huyết thống của cá rồng vàng Indonesia, sẽ có hàng vẩy thứ 5th và 6th màu đen hay nâu đậm . Ánh vàng kim trên vẩy của cơ thể cá chỉ leo và lên màu đến hàng thứ tư . 1/3 của vây đuôi và vây lưng sẽ có màu xanh đậm . 2/3 phần còn lại của vây đuôi,, vây hậu môn, cặp phướng của vây ức sẽ có màu cam đỏ tương tự như huyết long . Ở kích thước 7-8cm, các vây/vi/kỳ của KLHV chỉ là hoàn toàn màu vàng nhạt đến đậm, rất khó phân biệt với thanh long . Màu cam đỏ của vây/vi/kỳ của KLHV chỉ bắt đầu ửng màu khi chúng đạt được kích thước khoảng 10-12cm nếu được cho ăn tép con, tôm thẻ, vì đây là nguồn thức ăn có chất chứa nhiều chất beta-caroteine. Màu vàng ánh kim chạy viền bao quanh viền của hàng vẩy sẽ bắt đầu lên màu khi KLHV được khoảng 15-20cm, Và chỉ leo tối đa đến hàng vẩy thứ 4th . Nếu bạn đem hai con quá bối và klhv cùng 15cm và hàng vẩy của hai giống loại này cũng chỉ mới leo lên đến hàng thứ 4th để mà so sánh, thì bạn sẽ không cần mất nhiều thời gian để nhận ra rằng cường độ sáng của ánh vàng kim trên các hàng vẩy của quá bối sẽ đậm và óng ánh hơn KLHV . ![]() Một số KLHV với phẩm chất tốt sẽ có vẩy leo lên đến hàng thứ 5th và thậm chí đến cả hàng thứ 6th khi được 5-8 tuổi , hoặc khoảng 65cm trở lên . Tánh khí của KLHV thường dữ dằn hơn huyết long, nhưng thua xa quá bối, vì quá bối nổi tiếng là hung dữ, và cộc tính nhất trong các giống loại cá rồng Á Châu . Vì cá tính này của KLHV cũng như huyết long, các bạn có thể nuôi 8-9 con cá rồng KLHV hoặc huyết long trong một bể dể dàng hơn là nuôi 8-9 con kim long quá bối chung trong một bể . Màu nền của vẩy trên cơ thể của KLHV tương tự như quá bối cũng có 3 màu chủ yếu “ xanh, vàng và xanh lá cây . Một điểm nữa tôi xin được lưu ý các bạn có ý định nuôi KLHV nên lưu tâm là một con cá huyết long loại 1.5 với phẩm chất tốt khi còn nhỏ sẽ nhìn rất đẹp hơn là một con KLHV trung bình cùng kích thước khi chúng còn bé . Tuy nhiên, điều này sẽ trái ngược lại khi cả hai con này phát triển đến kích thước 40cm hay lớn hơn . Lý do là vì màu vàng của viền chạy dọc bao quanh vẩy của KLHV là điều mà huyết long loại 1.5 sẽ không bao giờ có được . Đặc điểm này của KLHV càng lớn càng đậm và rỏ nét . Vì thế, nếu các bạn muốn chơi cá rồng “đường dài” mà tài chánh không cho phép để ôm quá bối hay huyết long, thì nên chọn giống loại KLHV vì chúng vừa đẹp vừa có giá phải chăng . Huyết long loại 1.5 và thanh long chỉ vàng chỉ nên dành cho các bạn muốn chơi cá rồng với tính cách “chuyển tiếp” mà thôi . ![]() Ảnh trên của KLHV khi được 8 tuổi . Không khác quá bối là bao . Đúng là gừng càng già càng gân Một số KLHV sẽ có khả năng hàng vây” thứ 5th leo và lên màu khi trưởng thành , thay vì chỉ dừng lại ở hàng vẩy thứ 4th . Giống loại này giờ đây thường được gọi là cao lưng hồng vỹ . Rất khó để ta có thể phân biệt giữa KLHV và cao lưng hồng vỹ khi chúng còn bé . Một điều cần xác định lại cho rõ ràng là cho dầu cao lưng hồng vỹ có phẩm chất tốt đến đâu, cũng không thể so bì với quá bối về cường độ màu sắc và khả năng rực sáng và phản chiếu ánh đèn/ánh nắng của quá bối .cũng như sự leo và lên màu của hàng vẩy thứ 6th trên sống lưng mà ta thường biết là một đặc điểm chỉ dành cho quá bối và huyết long . ![]() THANH LONG Trong các giống loại cá rồng đang được bảo vệ bởi CITES, thì Thanh long được bán ra với giá rẻ nhất. Lý do là vì trong thiên nhiên, thanh long hoang dã được tìm thấy rải rác tại các nước Đông Nam Á, và Nam Á chứ không chỉ quy tụ ở hai nước Malaysia và Indonesia như giống kim long quá bối, kim long hồng vỹ và huyết long . Hầu hết các trại cá rồng đều có cho nhân giống thanh long, vì thanh long rất được yêu thích và có nhu cầu rất cao cho những ai mới gia nhập cuộc chơi vì giá cả hoàn toàn chấp nhận được, và thanh long thường được nuôi và chơi như cá rồng trong giai đoan “chuyển tiếp”, để lấy kinh nghiệm trước khi các bạn đam mê cá rồng có quyết định “nâng cấp”. Thanh long rất được ưa chuộng tại Nhật trong giới học sinh trung học và sinh viên. Vì thế đơn đăc hàng của thanh long cho khách hàng tại Nhật thường là từ 400-500 con cho mỗ̉i hóa đơn. Thanh long có những đặc điểm khác hẳn với với giống loại QB, HL và KLHV với phần vây lưng, đuôi và hậu môn có màu nâu thẩm chứ không đỏ, trên các hàng vẩy có dấu ấn của hình móng ngựa. Đặc điểm vành móng ngựa này sẽ ngày càng rõ dần theo năm tháng và kích thước của thanh long. Hai hàng chỉ với những lỗ nhỏ li ti chạy dọc theo thân cá trên hàng vẩy thứ 3rd được thể hiện rất rõ ràng, kể cả khi thanh long còn nhỏ. Thanh long thường trông đẹp mắt hơn trong tuổi ấu niên khi so sánh với giai đoạn tráng niên, và khi trưởng thành thì thanh long sẽ trổ mả và nhìn đẹp hơn so với giai đoạn chuyển tiếp giữa ấu niên và trưởng thành. Thanh long với phẩm chất tốt sẽ có màu xanh hoặc tím trên những hàng vẩy 4th, 5th và 6th trên cơ thể . Khi trưởng thành, thanh long sẽ có phần đầu tròn và nhỏ hơn . Đây là yếu tố mất điểm của thanh long , vì phần đầu của thanh long sẽ nhìn không cân đối trong tuổi trưởng thành . Trong các giống loại rồng Á Châu, thanh long được xem là hiền và nhát nhất, nên sắc xuất thành công để nuôi chung thanh long rất cao khi chúng được nuôi từ 8-20 con trong một bể lớn. Vì thế nếu các bạn nào đang có ý định thực hiện việc nuôi chung cá rồng Á Châu, mà tài chánh là vấn đề khó khăn cho các bạn, thì thanh long là một sự lựa chọn thích hợp vậy . Tuy nhiên, cá tính mổi con cá rồng mổi khác, tuy có tiếng là hiền và nhát, nhưng đôi lúc cũng sẽ có thanh long là tay “anh chi” và rất sừng sỏ, chuyên và rất thích ấu đả, vì thế các bạn nên để ý những con thanh long “thích sống ngoài vòng pháp luật” này . Thêm một lý do tại sao giá cả của thanh long lại rẻ hơn các giống loại cá rồng Á Châu khác, ngoài các lý do đã nêu trên, là vì tuổi trưởng thành của thanh long và thời gian chờ đợi cần phải có để đi vào chu kỳ sinh sản chỉ cần khoảng 3 năm thay vì 4-5 năm cho quá bối KLHV, và 6-7 năm cho huyết long. Khi đã đến tuổi cặp kê, tỷ lệ thành công nhân giống thanh long thường cao hơn quá bối/KLHV và huyết long rất nhiều. THANH LONG CHỈ VÀNG (YELLOW AROWANA) ![]() Size em TL vàng này mới "dứt sữa" 12-->15cm THANH LONG CHỈ VÀNG (YELLOW AROWANA) Thường được biết đến với tên thanh long chỉ vàng. Vây của thanh long chỉ vàng lúc nhỏ thuòng có màu hơi hồng nhạt khi cá còn non, và hoàn toàn biến mất khi cá trưởng thành. Tất cả các vây/vi/kỳ sẽ đổi màu trở thành màu vàng. Đây là lý do tại sao thanh long chỉ vàng có tên như thế . Có một sự hiểu lầm rất tai hại là một số đông người chơi cá rồng cứ cho rằng thanh long chỉ vàng là kết quả của những cuộc tình từ huyết long X thanh long nơi hoang dã, và từ đó phát sinh ra thanh long chỉ vàng . Nhưng suy nghĩ đó hoàn toàn sai lầm, vì thanh long chỉ vàng là một giống loại cá rồng Á Châu rất riêng biệt như các giống loại rồng Á Châu đã được đề cập . Thanh long chỉ vàng không được có tiếng bằng các họ hàng nổi tiếng khác vì chúng không có nhiều màu sắc . Có rất ít các trại cá rồng cho nhân giống với huyết thống 100% của loại cá thanh long chỉ vàng này như là đặc phẩm chủ yếu của họ, vì giá cả bán được bán ra trên thị trường không được cao cho lắm . Tuy nhiên , thanh long chỉ vàng thường được cho nhân giống với huyết long để tạo ra giống lai tao có tên phân loại là huyết long loại 1.5 . Em TLvàng bên dưới đang "nhổ giò" được 33cm ![]() CÁC GIỐNG LOẠI CÁ RỒNG CHÂU Á LAI TẠO KHÁC Các giống loại lai tao sau đây được tạo nên để kích thích sự mong chờ và thỏa mãn yêu cầu của giới tiêu thụ, và đã được thấy quảng cáo và bày bán trên thị trường trong vài năm qua. Đây là kết quả của nhiều công sức và tìm tòi bởi những trại cá rồng lưu tâm để ý . Mỗi khi có một giống loại mới được cho ra đời, thời gian cần thiết đòi hỏi khoảng 8-9 năm . Mỗi một thế hệ cần khoảng 4-5 năm để trưởng thành, và cần thêm khoảng 2 thế hệ tiếp nối để xác quyết được khả năng lai tạo và nhân giống chúng . Để có thể thực hiện được chuyện này, các trại cá cần phải có vốn đầu tư và kiên nhẫn để có thể thành công . ![]() HUYẾT LONG LOẠI 1.5 Hay còn được gọi là Banjar Red . Đây là giống loại được nhân giống từ Huyết Long X Thanh long/Thanh long chỉ vàng . Thông thường các trại cá rồng sẽ lựa ra các con huyết long với phẩm chất dưới trung bình cho nhân giống với thanh long hay thanh long chỉ vàng có phẩm chất cao để tạo nên loại huyết long loại 1.5 này. Đã có nhiều trường hợp được biết là các lái cá không uy tín đã cho huyết long 1.5 ăn màu kích thích, để bán đi với giá của huyết long loại 1 . ![]() Kết quả của các cuộc tình có tính toán này là bầy cá con với hình thù và vóc dáng của thanh long/thanh long chỉ vàng, và vây/vi/kỳ có màu sắc phản phất của huyết long. Đôi lúc, một số chấm đỏ li ti có thể xuất hiện bên dưới của hàm dưới của loại này . Một số huyết long 1.5 được coi là đẹp, sẽ có hàng vây đỏ như huyết long loại 1, nhưng sẽ không bao giờ có được căp râu và đôi môi đỏ gợi tình và quyến rũ của huyết long . Huyết long loại 1.5 sẽ có phần miệng tròn và không sắc cạnh như huyết long loại 1. Những lằn chỉ đen (xương gân) trên vẩy của vây đuôi, lưng và hậu môn là những đường thẳng chứ không có hình dạng chữ Z. Hiện tại chỉ có vài trại cho nhân giống loại này, và giá trị kinh tế thấp . ![]() HUYẾT LONG LOẠI 2 Thay vì cho nhân giống huyết long loại một với phẩm chất dưới trung bình với TL/TL chỉ vàng với phẩm chất tốt như huyết long loại 1.5 , giờ đây huyêt long loại 1 dưới trung bình sẽ được cho nhân giống với TL/TL chỉ vàng dưới trung bình để tạo nên huyết long loại 2 . Hiện tại chỉ có một số ít trại cá bên Indonesia cho nhân giống loại này . Ảnh của HL loại 1: ![]() Xin để ý đến phần đầu của HL loại 1, rất sắc cạnh, và không hề tròn . Phần vây đuôi đỏ đậm, nếu nhìn kỷ, nhưng tấm ảnh này không thể hiện, phần vây đuôi, xen kẻ giữa các lằn xương gân chính là những lằn xương chỉ nhỏ ngắn giao nhau , chứ không thoáng rộng như phần vây của HL loại 1.5'2 . Hàng vẩy trên cơ thể sánh và có sự sáng lạnh của kim loại (metallic blue hue) . Râu và môi đỏ. Ảnh của HL loại 2: ![]() Huyết long loại 1.5/2 sẽ có đầu tròn, hai hàm miệng giao nhau không sắc cạnh, màu vây đuôi, lưng và hậu môn mờ nhạt . Không có các đường chỉ nhỏ ngăn li ti giao nhau ở giữa các lằn chỉ xương gân trên vây . Màu sắc của các hàng vẩy trên cơ thể của HL loại 1.5/2 mờ nhạt ![]() CAO LUNG HỒNG VỸ Là kết quả của các cuộc tình từ quá bối X kim long hồng vỹ . Mục đich là để tạo lai một giống loại kim long Á châu với hàng vẩy leo và lên màu cao hơn hàng vẩy thứ 4th của KLHV . ![]() HUYẾT LONG VÀNG (GOLDEN RED aks TONG YANG/RED SPLENDOUR) Kết quả của các cuộc tình giữ quá bối và huyết long . Bầy cá con sẽ có nhiều màu vàng trên hàng vẩy xanh/hồng . ![]() ![]() BACH LONG (PLATINUM) Hay còn gọi là Bạch long. Làm sao để có được giống loại này, hiện tại vẫ̉n còn là một điều bí mật. (ghi chú của người phiên dịch: chẳng phải là bí mật, cả trại rồng cũng chẳng biết, vì đây là hiện tượng của gene tạo nên màu sắc bị đột biến. khi nào genes bị đột biến thì có trời mới biết được). Giống loại platinum này đều có thể xuất phát từ quá bối, thanh long, và huyết long. Platinum với gene bị đột biến từ huyết long sẽ có chút ít sắc tố hồng đỏ ở các vây; platinum từ quá bối và thanh long sẽ có vây màu trắng hoặc vàng nhạt. ![]() ![]() Rất cực kỳ hiếm để có loai rồng bạch long này, nên chúng không được thấy bày bán cũng như quảng bá trên thị trường . Vì thế giá cả của Bạch long thường đi ở trên mây. Hiên nay, Nhật bản là quốc gia tiêu thụ cá rồng nhiều nhất mà chỉ có ít hơn 10 con bạch long đã được xuất cảng sang Nhật. |
| Đã có 34 thành viên gửi lời cảm ơn tới genta vì bài viết hữu ích này: | ||
1KgThiT, baoanh, broadzone, Cavangsutu, Cá cảnh VN, changhieuvisao, david_cz0212, duckhoi2674, green, hackhuyen, hdh206, hp_damme, huagia, kybuulai, mtro, ndm1965, ngothehung, nguyenngocdung1972, nhimbeo89, NV.HanhD, phamduc1979, QuachDinhHa, qvd, samsumo2008, sonanh2030, tanphu_catv, thong mai, THUANTH, tudaubac, Vanhd, Van_Hieu, vjpsockcuteboy, VuongGiaLong, zipbo999 | ||
|
||||
![]() CHƯƠNG II: AO NHÂN GIỐNG CÁ RỒNG Khi đã đam mê cá rồng, tùy theo khả năng tài chánh của mổi người chơi, chúng ta sẽ chọn cho những con cá rồng yêu quý một môi trường sống thoải mái thoáng rộng và thích hợp với tiềm năng có thể đạt được đến kích thước ~ 90 cm cho giống loại cá rồng Á Châu . Trong chương này, chúng ta hãy tạm cho phép chúng ta vượt thoát ra khỏi những bể kiếng thông thường được dùng trong nuôi cá rồng trong nhà, mà hãy cùng tác giả đào sâu thêm vào những chuẩn bị cần thiết để thiết kế một ao hồ ngoài trời trong thiên nhiên . AO CÁ RỒNG Khi nói đến ao, thông thường chúng ta nghĩ ngay đến ao ngoài trời . Những ao này có thể được tạo nên bởi kiếng ép, cement hay ao đất bùn . Tất cả 3 loại vật liệu vừa nêu đều thích hợp để nhân giống cá rồng, nhưng ao cấu tạo bằng kiếng ép sẽ vô cùng đắt tiền; ao bằng cement , nếu không thông hiểu các kỷ thuật kiên trức, thường sẽ có độ pH rất cao, và dĩ nhiên là sẽ không thích hợp trong việc nhân giống cá rồng . Vì thế chúng ta chỉ còn lại một sự lựa chọn là ao đất bùn . ![]() ![]() Ao đất bùn ngoài trời luôn thay đổi bởi các yếu tố trong môi trường thiên nhiên như thời tiết/khí hậu, tình trạng của đất, lượng ánh sáng mặt trời, lượng nước mưa, các loại cây thủy sinh hiện diện trong ao v.v… Nếu lượng nước mưa quá ít thì sẽ làm độ pH dâng cao, và ngược lại nếu quá nhiều mưa, thi độ pH sẽ giảm nhanh chóng . Lượng ánh nắng mặt trời tác động lên môi trường sống của cá rồng trong ao ngoài thiên nhiên vô cùng quan trọng . Xin lưu ý cá rồng là cá có nguồn gốc từ miền nhiệt đơi, chỉ sống quanh quẩn trong các khu vực gần miền xích đạo . ![]() Vì thế, muốn nhân giống cá rồng thành công, chúng cần ít nhất từ 10-12 tiếng với lượng ánh nắng mặt trời thật mạnh mổi ngày để có thể phát triển khỏe mạnh và nhân giống . Nhiệt độ trung bình trong ao trong ngày có thể giao động từ 28-32 độ Celcius . Tất cả những khoảng nhiệt độ trên hay dưới 28-32 độ C, đặc biệt nếu kéo dài trong một thời gian quá lâu, sẽ làm cho cá rồng trở nên biếng nháng, ít hoạt động và rất dể sinh bệnh . Đây là lý do tại sao tại Nhật, quốc gia đang nhập cảng cá rồng nhiều nhất trên thế giới , tuy có thành công trong các vụ nhân giống cá rồng lẻ tẻ, nhưng không thành công để có thể cho ra đời hàng loạt theo chiều hướng kinh doanh . Lý do chủ yếu ở đây là vì Nhật bản có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông . ![]() Ao dùng trong mục đích nhân giống cá rồng cũng khác nhau tùy theo từng quốc gia . Các trại cá rồng tại Singapore và Malaysia thường sẽ xây/đào ao với kích thước nhỏ hơn, với hình chữ nhật có kích thước như sau : 30m X 15m X 2m chiều sâu . Đây là kích thước cho các ao thường thấy tại 2 quốc gia nêu trên . Trong khi đó, các ao tại Indonesia thường có kích thước như sau : 200m X 15m X 3m chiều sâu . Các trại cá rồng tại Indonesia có được kích thước rộng lớn như thế là vì đất đai bên Indonesia còn nhiều . Tuy nhiên khi ao nhân giống cá rồng quá dài và rộng sẽ rất bất tiện khi thu hoach, cho ăn và chọn lựa cá . CHỌN ĐỊA ĐIỂM Những vùng đất nào có vị trí gần ngay nguồn nước và phần đất bên dưới có chứa nhiều đất sét, và có khả năng giữ nước đều là địa điểm tốt để thành lập ao nhân giống cá rồng . Nguồn nước có thể là những ao dự trử nước mưa, sông ngòi, hồ, và thậm chí cả nước ngoài phong tên sau khi đã được khử chlorine/chloramide . Khi lựa chọn địa điểm, nếu được, xin hãy chọn nơi nào mà nguồn “nước đen” thặng dư . Nguồn “nước đen” đồng nghĩ với nước có độ pH từ 5-6 . Từ nguồn nước này, sau khi tình trạng bốc hơi xảy ra và ổn đinh , nước sẽ có độ pH từ 6-7 . Đây là độ pH thích hợp để nhân giống cá rồng . Vài điểm quan trọng khác, các bạn cần nghiên cứu cho thật kỷ là hàng rào an ninh, điện , và nguồn thức ăn cho cá rồng . Cá rồng Á châu cho đến thời điểm này là giống cá đắt tiền nhất trong các loài cá cảnh . Vì lý do này, những thành phần bất hảo sẽ không ngần ngại để “mượn đỡ” bầy cá rồng của bạn . Máy bơm bằng điện cũng tối quan trọng và cần thiết trong những lúc cần bơm nước trong ao ra trong các thời điểm thu hoạch cá con . GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ Sau khi đất bùn đã được đào xới đúng với kích thước đã được dự tính trước, bạn phải khử trùng ao vừa được đào với bột đá vôi . Bột đá vôi trong thiên nhiên có đặc tính kiềm, và có 4 loại được bày bán trên thị trường : loại bột đá vôi được dùng trong nông nghệ, quicklime, bột vôi được mài ra từ đá vôi, và bôt đá vôi khô . Quicklime vô cùng nguy hiểm vì có đặc tính làm phỏng da khi va chạm với chúng . Bột đá vôi nông nghệ rất an toàn để khử trùng ao cá rồng , kể cả khi có cá trong bể, nhưng để thật chắc chắn các bạn không nên làm thế . Loại bột đá vôi khô là loại tốt nhất, và thường được xử dụng trong các ao cá rồng . Các loại bôt đá vôi nếu có xử dụng, không nên cho vào ao sau khi trong ao đã có cá . Bột vôi nên được cho vào trước khi đổ nước vào . Rải bột vôi dưới đáy ao 10grams/1m vuông . Không nên lạm dụng quá nhiều bột vôi, vì độ pH trong ao sẽ tăng rất cao, và đó là điều không tốt để cho cá rồng phát triển . Bột vôi cần được để dưới đáy ao phơi nắng từ 2-3 tuần trước khi cho nước vào . Thời điểm tốt nhất sau 2-3 tuần phơi nắng ao với bột vôi là khi thấy được các vết nứt và cỏ dại bắt đầu mọc . Khi ao đã có nước đầy với chiều sâu từ 2-3 m như dự đinh, hãy để như thế trong ít nhất là 1 tháng . Đây là thời gian tối thiểu cần thiết để chu kỳ nitrogen có thể hoàn tất . Nếu cá rồng được cho vào trong thời gian này, chúng sẽ có khả năng bị chết rất cao . Trong thời gian này, nếu kiẻm tra độ pH của nước ao, pH của nằm ở khoảng từ 8-9 . Tất cả các ao mới sẽ có độ pH cao như thế này vì rêu, hoạt động của vi sinh và sự phân vi hóa của các mảnh vật vụn trong ao . Bạn có thể rút ngắn thời gian chờ đợi bằng cách cho phân bón vào ao . Chất dinh dưỡng từ phân, nitrogen , phosphorous, và potassium từ phân bón sẽ được tiêu thụ bởi các loại rêu trong ao . Kết quả là nước ao sẽ có màu xanh lá cây hoạc nâu nhạt . Sau đó là sự phát triển của vi sinh trong ao . Vi sinh sẽ tiêu thụ các loại rêu đang phát triển, và thế là bạn đã tạo ra hệ thống “thức ăn” dây chuyền trong ao nhân giống cá rồng . Sau thời gian chờ đợi, và nước đã có ngã màu như miêu tả bên trên, bạn nên thả vài con cá 7 màu, hay các loại cá rẻ tiền khác để thử nước . Nếu các con cá này không chết và phát triển tốt, và thậm chí bắt đầu sinh ra cá con, thì lúc ấy bạn chỉ nên thử một con cá rồng trước khi cho tất cả số lượng cá rồng đã được dự tính cho vào ao . Sau vài ngày, nếu con cá rồng đầu tiên vẩn bơi lội bình thương, thì lúc này bạn có thể cho nguyên bầy cá rồng vào trong ao . Thời gian trong ngày để cho cá vào ao là lúc nhiệt độ của nước ao mát và dịu như trong buổi sáng hay xế chiều . Xin lưu ý là khi cho cá rồng vào ao, nhiệt độ nước và độ pH của bầy cá rồng phải tương tự như trong ao, để tránh trường hợp cá bị shock . Ao nhân giống cá rồng sẽ còn tiếp tuc . ![]() CÂY THUY SINH TRONG AO CÁ RỒNG Có rất nhiều cây thủy sinh có thể cho vào ao của cá rồng, nhưng những loại thường được thấy trong các ao cá rồng trong các trại cá trong vùng Đông Nam Á là cây hoa sen/hoa súng, cay lục bình và bèo v.v.. Các loại cây này được cho vào ao cá rồng không chỉ để tăng vẻ đẹp, mà chúng sẽ góp phần tích cực và rất quan trọng trong bộ phận lọc sinh học tự nhiên của ao cá . Ban ngày, các loại cây này xử dụng ánh sáng mặt trời để chuyển hóa khí CO2 qua dạng thức ăn mà các loại cây trong ao có thể tiêu thụ , và đồng thời thải ra khí oxygen cần thiết cho sự hô hấp của cá và các vi sinh vật trong ao . Các loại cây thủy sinh này lại còn có công dụng ích lợi khác là tạo nên bóng mát cho bầy cá rồng giống tránh ánh nắng chói chan của khí hậu vùng xích đạo trong những buổi trưa ơi bức . Song song với những ích lợi vừa nêu, cây thủy sinh trong ao lại còn tiêu thụ các độc tố vô hình, vô vị , và không màu sắc là ammonia, nitrite và nitrate . Tuy nhiên khi đêm về, thì số lượng khí oxygen trong ao sẽ tụt giảm đáng kể, vì đây là lúc mà cây thủy sinh sẽ cùng cạnh tranh với cá rồng để tiêu thụ khí oxygen, và thải ra khí CO2 . Các bạn phải thật cẩn thận, sự hiện diện của các loại cây thủy sinh trong ao cá rồng như con dao hai lưỡi vì chúng có những ích lợi rất thực tế và bổ ích, nhưng nếu vì không thông hiểu và lạm dụng bằng cách cho quá nhiều các loại cây thủy sinh này trong ao cá, sẽ là điều nguy hiểm . Bầy cá rồng giống nuôi trong ao, thường bị chết là vì bị ngôp, thiếu khí dinh dưỡng oxygen sau khi màng đêm kéo về . Để phỏng đoán khoảng bao nhiêu các loại cây thủy sinh trong ao cá thì vừa đủ, các bạn cứ theo phương cách này là tuyệt đối không bao giờ để các cây thủy sinh trong bao bao phủ hơn 50% mặt nước của ạo. Nếu bèo con được thả trong ao, các bạn luôn phải để ý và thường xuyên hớt bớt chúng ra, vì loại bèo bản nhỏ này phát triển rất nhanh, chẳng mấy chốc thì chúng sẽ lan tràn, và cá sẽ chết ngộp vì đấy . Nếu phải đề nghị một loại cây thủy sinh thích hợp cho ao cá rồng, thì cây hoa sen là loại cây tốt nhất vì chúng có đủ các yếu tố lợi ích nêu trên mà lại phát triển chậm . ![]() NÊN CÓ BAO NHIÊU CON CÁ RỒNG GIỐNG TRONG AO ? Trong một ao có tỉ trọng là 90 tấn nước ( 30m X 1.5m X 2m ), các bạn có thể cho vào đấy từ 50-80 con cá rồng giống . Nếu trong ao có nhiều hơn 80 con, vì số lượng cá quá nhiều dể đưa đến tình trạng thiếu dưỡng khí oxygen , và đó sẽ là một vấn nạn nhiều nhức đầu cho bạn và cho ao cá giống của các bạn . Đồng thời vì cá rồng là giống cá lớn nên cần rất nhiều dưỡng khí O2 trong ao để phát triển và nhân giống , nếu vì lý do gì mà điều kiện này không được thỏa mản, thì mục đích nhân giống của bạn sẽ khó lòng mà thực hiện được . ![]() Ngược lại , nếu số lượng cá rồng giống trong bể quá ít, thì các bạn sẽ chẳng thu hoạch được bao nhiêu, hay thậm chí là chẳng thu hoạch được chi cả . Một khi thả bầy cá rồng giông' vào ao, có nghĩa là ta để cho bọn chúng được tự nhiên chọn "bạn tình" theo kiểu tự nhiên ngoài nơi hoang dã . Mà khi được lưa chọn theo phương pháp này, thì không phải cứ một trống một mái là trở thành một cặp "uyên ương" . Chúng phải thích nhau thì mới có chuyện ấy, vì thế khả năng của bầy cá giống trong ao, không chọn được người tình thích hợp và không nên duyên "tơ tóc" với nhau rất cao . Đồng thời kể cả khi trưởng thành, sự phân biệt giữa trống và mái cho bầy cá rồng rất khó, nên con số cá rồng tối thiểu với tỉ trọng nước như trên, nên con số 50-80 là hợp lý, vì như thế , ít ra các bạn sẽ an tâm là số lượng trống và mái trong ao sẽ không chênh lệch là bao . ![]() Cá rồng trống khi đạt được kích thước trên 45cm, sẽ có những đặc điểm sau : thân hình sẽ dài đòn hơn, màu sắc sẽ rực rỡ và đậm màu hơn, hai cặp phướng/đao sẽ dài hơn cá mái , và hàm dưới sẽ dài và sâu hơn . Nhưng đây chỉ là lý thuyết với khả năng đoán trúng có tỷ lệ khoảng 70-80% . Những tiêu chuẩn vưa nêu để tạm phân biệt trống và mái nơi cá rồng dưới cặp mắt "nhà nghề" cũng lắm lúc sẽ đoán trật . Vì thế xác định đúng giới tính của cá rồng vô cùng khó khăn, và ta chỉ biết chắc gần như 100% khi thấy được con cá rồng nào đang ngậm và nuôi con trong miêng, thì con đó là cá rồng trống . ![]() PHƯƠNG CÁCH BẢO QUẢN AO CÁ RỒNG Độ pH , hàm lượng ammonia, và hàm lượng khí oxygen hòa tan trong ao cần phải được canh đo hàng tuần . Đây là công việc tối quan trọng cần phải làm không nên bê trể . Các dụng cụ canh đo tân tiến trong lĩnh vực này ngày nay đang được bày bán trên trị trường sẽ giúp các bạn tiết kiệm được khá nhiều thời gian, cũng như độ chính xác của việc canh đo . Nếu các thông số không được tốt như định, thì các biện pháp phòng ngừa, chỉnh đốn phải lập tức được thi hành . Xin lưu ý là khi đo độ pH trong ao cá rồng, thời gian thích hợp để có độ pH chính xác nhất là vào những giờ sau buổi trưa, lý do là lúc này độ pH sẽ tăng cao, vì các loại cây thủy sinh trong bể đang hấp thụ khí CO2 và tạo ra dưỡng khí O2 . Phản ứng quang tổng hợp này sẽ làm cho độ pH tăng, và thời điểm này là lúc các bạn nên đo pH . ![]() Nếu ao cá rồng của bạn không tiếp nhận được lượng nước mưa tương đối, hay quá ít, thì nước trong ao phải cần được thay mổi tuần một lần . Mổi lần thay nước, không nên thay quá 40% số lượng nước trong ao để giảm thiểu tối đa khả năng bầy cá giống bị stress vì shock nước . Thông thường số lượng nước cần thay hàng tuần lý tưởng nhất là từ khoảng 20-30% . Các bạn nên dùng máy bơm nước để bơm nước củ ra khỏi ao khi thay nước . ![]() Thức ăn cho bầy cá giống cần phải được luân phiên thay đổi và đúng giờ . Thông thường giờ ăn tốt nhât cho cá là vào buổi sáng, khi mặt trời cũng như độ nóng của nước chưa dâng cao, và trong lúc xế chiều khi ánh nắng và nhiệt độ của nước trong ao đã dịu lại . ![]() Khi cho ăn, các bạn nên chỉ cho ăn tại một chổ và tránh di chuyển/thay đổi vị trí cho ăn của bầy cá . Theo bản tính tự nhiên, bầy cá rồng giông' sẽ chầu chực và chờ đợi bạn ở điểm tụ cho ăn hằng ngày trong khoảng thời gian chúng được cho ăn trong ngày . Khi cho ăn, chỉ nên nhắm chừng và cho ăn theo khoảng 1-2% trọng lượng của mổi con cá là ngưng . Không bao giờ cho bầy cá giống trong ao ăn cố, vì hàm lượng ammonia sẽ dâng rât cao và nhanh, cuối cùng sẽ dẩn đưa đến những tình trạng sức khỏe không tốt cho bầy cá giống . Xin lưu ý là cá rồng trong tuổi trưởng thành chỉ cần ăn xen kẻ cách ngày, hay quá lắm là cho ăn hằng ngày, mổi ngày 2 bửa vào khoảng giờ giấc trong ngày vừa nêu trên là đủ . Bầy cá rồng giống nếu được cho ăn quá nhiều, sẽ có tình trạng phát phì , và sẽ tích tụ lớp mở chung quanh bộ phận và tuyến sinh dục của cá . Khi trường hợp này xảy ra, khả năng sinh sản thành công của chúng sẽ bị giảm thiểu . ![]() Các bạn có thể cho bầy cá giống ăn các loại thức ăn như sau : các loại cá mồi, cá rẻ tiền, tôm/tép đông lanh, nhái, dế trong các khẩu phần ăn của chúng . Chìa khóa của thành công ở đây là cho cũng bao nhiêu loại thức ăn đấy, nhưng các bạn nên luân phiên thay đổi . Lúc này là lúc các bạn đang cho ăn với tích cách kích dục chúng đi vào chu kỳ sinh sản, chứ không phải là cho ăn như lúc đang nuôi trong bể kiếng trong nhà . ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() CÁ RỒNG VÀ CÁC CỬ CHỈ TỎ TÌNH (chương III tiếp nối) Động từ ve vản được dùng để diển tả những thê điệu rồng múa khi bơi lội bên “người tình” . Những hành động như bơi song song sát cạnh bên nhau, va chạ cơ thể với nhau, xoay vòng và cuối cùng là quẩy nước có thể bắt đầu từ khi cá được khoảng 2 tuổi (40cm) . Tuy nhiên hầu hết cá rồng Châu Á phải được ít nhất là 3 tuổi để có thể tạm cho là trưởng thành, vì vậy khi cá rồng mói có 2 tuổi mà đã có những hành động trên thì ta có thể nghĩ đó là những cuộc tình “puppy love” . ![]() Trưởng thành về đường sinh dục, như trong loài người, thường sẽ khác nhau cho mổi người . Giống kim long quá bối và kim long hồng vỹ sẽ trưởng thành sớm hơn huyết long khi được 3 năm tuổi . Huyết long cần 1-2 năm trể hơn để có thể sinh sản ở năm thứ 4 hay 5 và thậm chí có thể phải đợi đến năm thứ 6 thì mới có thể sinh sản được ! Cá rồng mái khi được hai tuổi (~40cm) thì đã bắt đầu có trứng non trong buồng noản trứng . Trứng trong giai đoạn này sẽ rất ít và nhỏ vì thế cá chưa có thể làm công việc truyền giống trong giai đoạn này . Các hành động vẻ vản, luyến ái lẩn nhau sẽ có thể xảy ra bất cứ nơi nào trong ao cá . Đỉa điểm đã được chọn cho đôi “anh chi” tâm sự có thể là ngay giữa ao, hai bên thành của ao, nhưng thường là trong một góc nào đó có bóng mát của ao . Có những cặp cá rồng sẽ không biết mắc cở là gì, và “luyến ái” rất công khai không quan tâm đến mọi cảnh vật chung quanh, kể cả khi chúng biết bạn đang xăm xoi chúng . Các cử chỉ thương yêu nhau ra rít như đã đề cập trên thường xảy ra trước khoảng 1-2 tháng liên tục, thậm chí có thể kéo dài ra đến 3 tháng . Nhưng tệ hại nhất là cho dù cặp cá rồng của bạn có làm tất cả những hành đông/cử chỉ trên như cọ xát/va chạm vào cơ thể lẩn nhau, hay vờn múa theo điệu luân vủ của cá rồng v.v…, cuối cùng có thể chẳng có chi . Lúc này sẽ là lúc mang nhiều thất vọng và chán nản cho các nhân viên trại cá . ![]() Cặp cá rồng có thể tự do luyến ái nhau trong bất cứ giờ giấc nào trong ngày, có thể là vào thời tiết mát dịu của buổi sáng, hoặc dưới ánh nắng chói chann và nóng bức của buổi trưa . Tuy nhiên, nếu muốn quan sát chúng, các bạn sẽ có nhiều may mắn hơn nếu quan sát chúng vào những lúc thời tiết dể chịu hơn như vào lúc ban mai , hay xế chiều khi nhiệt độ đã dịu hẳn lại . Vì bản tính cố hửu của cá rồng là giốn cá chuyên bảo vệ lảnh đia., và thói quen, các cặp cá rồng một khi đã chọn đỉa điểm, thi chúng luôn luôn ve vản nhau chỉ trong phạm vi của địa điểm đã chọn . Địa điểm nơi chúng đã chọn để công khai mặc khải cho mọi người biết, thường cũng là nơi chúng đẩy trứng ra ngoài, thụ tinh và ngoạm trứng vào miệng để ấp . Khi những anh cá rồng nào có ý đồ không trong sáng, lãng vản vào trong khu cấm địa đã được chọn, lập tức cá rồng trống sẽ thực thi và chứng tỏ với “người đẹp” về khả năng rất “đàn ông” của mình bằng cách rượt đánh, và đuổi những “anh” đang có ý đồ này đi ngay . ![]() Có một điểm mà các bạn cần lưu ý là các động tác cọ xát cơ thể vào nhau, múa theo thể điệu luân vủ xoay vòng, và quẩy động nước tung tóe thường được xảy ra theo chu kỳ nhất đinh . Mổi một chu kỳ chỉ kéo dài khoảng từ 30-45 giây . Một khi chu kỳ chấm dứt, hai “anh chi” có thể sẽ quyết đính nghĩ ngơi trong khoảng 1 phút và lại tiếp tục một chu kỳ khác . Các động tác này thường mất khá nhiều sức lực và chúng sẽ từ từ bỏ ăn trong những tháng ve vản lẩn nhau .( Chú thích của người dịch: Xin lưu ý mục đích duy nhất và ưu tiên hàng đầu của cá rồng trong thời gian này là chuẩn bị để làm “chuyện ấy “, tất cả những chuyện khác xảy ra trong giai đoạn này, do thiên bẩm sẽ được xếp xuống hàng thứ yếu , nên chuyện cá rồng ăn rất ít hẳn lại và thậm chí bỏ luôn cả ăn hoàn toàn là điều các bạn cần nên biết và tuyệt đối không nên can thiệp , xin cứ để chúng làm những gì cần làm . Bằng không, thì sẽ hỏng hết tất cả mọi chuyện đấy . Bây giờ thì chắc các bạn có thể hiểu được tại sao trong những lúc cá rồng hay bỏ ăn khi tất cả các yếu tố về phẩm chất của nước đều được canh đo đến mức gần như tuyệt hảo mà cá vẩn bỏ ăn rồi chứ ? Một người muốn chay marathon, không thể tư nhiên không có một quá trình tôi luyện tập dợt để có thể tham gia . Cá rồng cũng thế , chúng cần phải nhịn ăn cho từ 2-3 tháng trong giai đoạn ve vản, ấp trứng và nuôi con …. Chúng sẽ không có cái khả năng chịu đựng này, nếu không được thao dợt từ trước . Đây là lý do tại sao ngoài những bệnh vớ vẩn có thể cũng có thể làm cá rồng bỏ ăn, ít nhất cá rồng phải “tập bỏ ăn” môt năm ít nhất một lần để chuẩn bị vậy ) . |
| Đã có 28 thành viên gửi lời cảm ơn tới genta vì bài viết hữu ích này: | ||
|
||||
|
CHƯƠNG III (Tiếp nối)
SINH SẢN ẤP TRỨNG VÀ NUÔI CON Bình thường cá rồng sẽ đi vào chu kỳ sinh sản suốt trong năm . Mổi con cá rồng sẽ sinh sản vào những thời điểm khác nhau trong năm . Mổi một năm chu kỳ sanh là từ 1-2 lần, nhưng thường là 1 lần cho hầu hết cá rồng Châu Á . Đối với những anh chị mẩn con chịu sanh 2 lần trong một năm, thời gian chúng tĩnh dưỡng nghĩ ngơi sau mổi một lần sanh là từ 6-8 tháng . Trong một số ít trường hợp rất hiếm hoi, có con sẽ lên đến 3 lần trong năm . Trong một ao cá rồng giống, phần đông không phải con nào cũng có thể và chịu sanh , khoảng 85%-95% số cá giống trong ao sẽ chẳng bao giờ sinh sản cả . Trong số phần trăm còn lại chỉ có khoảng 5%-10% trên tổng số cá giống trong ao sẽ bắt căp với nhau và sinh cọn . ![]() Khi nhân giống cá rồng trong ao đất bùn ngoài trời, thật đáng tiếc là chúng ta sẽ không thấy được hoặc ghi nhận được những gì sẽ sảy ra khi cá rồng đẻ trứng/thụ tinh v.v..trừ khi máy quay phim và thu hình được thiết kế trong thời gian chúng ve vản từ 1-3 tháng, 24 tiếng/ngày thì mới có thể nói chắc là chúng ta hoàn toàn biết rõ những gì đã sảy ra trong thời gian này . Có nhiều giả thuyết cho rằng cá rồng sinh sống ngoài hoang dã thiên nhiên sẽ đẻ trứng và thụ tinh trong ban đêm, và cá rồng được nuôi trong ao đất bùn thì ngược lại vao trong ban ngày . Sự thất chính xác thì không ai biết được, kể cả những chuyên gia kinh nghiệm nhất về cá rồng của trại cá cũng không thể nào xác quyết một cách tuyệt đối đươcc. Những gì mà chúng ta biết được là , cá rồng trống sẽ ấp trứng trong miệng sau khi trứng đã được đẩy ra ngoài cơ thể của cá rồng mái và đã được thụ tinh . Lúc này bên trong miệng của cá rồng trống sẽ căng phồng vì đã chứa đựng đầy ấp trứng . Những gì xảy ra trong thời điểm này sẽ gần y như là những gì mà các bạn đã có thể thấy trong vài video clips được thu hình bởi vài chủ tiệm cá rồng tại Nhật đã thành công cho cá rồng sinh sản trong bể kiếng . Nêu tính từ khi trứng được đẩy ra và thụ tinh, thì thời gian cần thiết để trứng cá có thể nở thành cá rồng con là khoảng từ 7-10 ngày . Noản trứng vàng đeo dính lủng lẳng dưới bụng bày cá rồng con sẽ từ từ nhỏ dần và biến mất sau 40 ngày . Bầy cá rồng con sẽ ở trong miệng của cá bố từ 50-55 ngày tính từ lúc sau khi trứng nở , và sau đó sẽ hoàn toàn sinh sống tự lập . Sau 55 ngày , và sau khi lìa bỏ và không tuỳ thuộc sự bảo vệ của cá bố, noản trứng sẽ hoàn toàn được tiêu thụ và biến mất . Lúc này cá sẽ có kích thước khoảng từ 7-8cm . Lúc này là lúc bầy cá con đã có thể tự đi săn lùng thức ăn như cá bảy màu con, và các loại côn trùng nhỏ bé . Đây là thời gian nguy hiểm và đầy thử thách cho bầy cá rồng con, vì chúng có thể bị các con cá lớn trong ao cá ăn thit . Để phần nào giảm thiểu bớt khả năng bị ăn thịt, bầy cá rồng thường sẽ cư trú và chỉ quanh quẩn trong các quần cây thuỷ sinh, bải lao sậy chằng chịt trong ao . ![]() Trong 45 ngày ấp trứng, cá rồng bố sẽ hoàn toàn nhịn ăn, không chấp nhận bất cứ một loại thức ăn nào . Cá rồng bố sẽ bớt linh hoạt hơn và thường bơi trong vị thế đứng tại chổ trong một góc nào đó của ao gần sát với mặt nước . Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ là cá rồng bố sẽ vẩn tiếp tục bơi lội tung tăng trong ao như bình thường với cái miệng căng phồng, như vẻ khoa khoang ta đây đã được lên chức bố . Làm gì thì làm, nói gì thì nói, tất cả những con cá rồng bố đang ấp trứng sẽ di động và đập hai nấp mang nhanh hơn bình thường để có thể mang nhiều dưỡng khí oxygen và nguồn nước mới và sạch cho trứng/bầy cá con đang được ấp/hoặc sinh sống trong miệng chúng . TỶ LỆ THÀNH CÔNG Số phần trăm cá rồng trống của bầy cá giống đang có ấp trứng/bầy cá con trong miệng thường là từ 5%-10% trên tổng số của bầy cá giống trong ao . Thí dụ trong một ao đất bùn có 50 con cá rồng giống, thì trong một kỳ thu hoach, các bạn chỉ có thể tìm thấy từ 2 con cá rồng trống (5%) cho đến tối đa là 5 con cá rồng trống (10%) với bầy cá con trong miệng . Nếu bầy cá giống chỉ có tuổi từ 3-4 tuổi, thì tỉ lệ có cá trống ấp con trong miệng thường sẽ thấp hơn chỉ với 5% tỷ lệ thành công . Khi tuổi của bầy cá giống tăng, thì tỷ lệ thành công cũng theo số tuổi của bầy cá giống mà tăng lên . Tuy nhiên, tỷ lệ thành công không phải vì thế mà cứ tăng dần theo tuổi của cá rồng , sẽ có một lúc nào đó, mối tương quan về tuổi cá rồng và tỷ lệ thành công chấm dứt , và đi ngược chiều với nhau . Thời điểm này là khi cá rồng được khoảng 15 tuổi, thì chúng sẽ không còn "mẩn con" như trước nữa . ![]() Trong kế hoạch nhân giống cá rồng, có nhiều yếu tố phụ thuộc tổng hợp lại để đưa đến sự thành công : 1. Tổng số lượng cá giống trong ao . 2. Tỷ lệ phần trăm của phái tính . 3.Tuổi của bầy cá giống . 4. Phẩm chất của nước trong ao . 5. Nhiệt độ của nước trong ao . 6. Độ pH của nước trong ao . 7. Thức ăn và chất lượng của chúng . 8. Yếu tố cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng ---> Sự may mắn . |
| Đã có 39 thành viên gửi lời cảm ơn tới genta vì bài viết hữu ích này: | ||
baoanh, broadzone, Cá cảnh VN, dungtien, green, Hồn Sông Núi, hungphong276, kybuulai, lã vọng, manhtroc, mercedesbmw, mrju, namdung, ndm1965, ngothehung, nguyenngocdung1972, nhan_arowana, nhimbeo89, NV.HanhD, QuachDinhHa, quochuyct, qvd, rong thuy sinh, royal_1909, SaoKhue, SHi150, sonanh2030, tanphu_catv, thong mai, THUANTH, toan, trungtruong, tudaubac, Vanhd, Van_Hieu, vnese_gangz, vo chong vooc, zipbo999, zodiac0560 | ||
| Đã có 6 thành viên gửi lời cảm ơn tới huagia vì bài viết hữu ích này: | ||
|
||||
|
NHÂN GIỐNG CÁ RỒNG TRONG BỂ KIẾNG
Nhân giống cá rồng trong ao đất bùn đã là khó, thì chuyện nhân giống cá rồng trong bể kiếng lại còn khó khăn hơn . Nếu dể dàng thành công, thì cá rồng Châu Á đã không được cho vào danh sách đỏ, có nguy cơ bị tuyệt chủng, và được bảo vệ bởi hội nghị Quy Ước Quốc Tế Về Giao Thương Các Loài Động Thực Vật Hoang Dã Đang Có Nguy Cơ Bị Tuyệt Chủng (CITES) hạng I . Và nếu nhân giống trong bể kiếng quá dể dàng để thành công, thì người chơi khắp 5 châu , 4 bể đã không phải bỏ một số tiền khá lớn để sở hửu những con cá rồng mà đã được mệnh danh và "Hoàng Đế Của Bể Cá Nước Ngọt ". Tuy nhiên, tuy rất hiếm những thỉnh thoảng vẩn có những trường hợp cá rồng sinh sản thành công trong bể kiếng được báo cáo . Cho đến ngày hôm nay, để nuôi và nhân giống cá rồng thành công trong bể kiếng , chưa có ai qua mặt được người Nhật . Họ đã thu, chụp hình, quay phim để minh chứng cho sự thành công của họ . Các bạn phải thật là may mắn nếu có được cá rồng sinh sản thành công trong môi trường bể kiếng, vì sắc suất để có được sự thành công này có thể phỏng đoán khoảng chừng 1 trong 1 triệu . Bên dưới là bản đúc kết của các cuộc nhân giống cá rồng Châu Á thành công trong bể kiếng đã được báo cáo, và có được dữ liệu và hình ảnh để minh chứng hẳn hoi . 1988- Kim Long Hồng Vỹ 1989- Huyết Long 1989- Kim Long Hồng Vỹ 1992- Kim Long Hồng Vỹ X Thanh Long Chỉ Vàng 1991-Huyết Long 1993- Kim Long Hồng Vỹ X Thanh Long Chỉ Vàng 1996- Kim Long Quá Bối 1997- Kim Long Quá Bối 2003- Kim Long Quá Bối X Kim Long Hồng Vỹ 2005- Kim Long Quá Bối CASE #1 Câu chuyện nhân giống cá rồng thành công trong bể kiếng, xảy ra vào năm 1989 . Người may mắn và thành công là một chủ tiệm bán cá rồng tại Nhật . Ông ta đã cho nhân giống thành công đầu tiên và cho đến ngày hôm nay vẩn là người duy nhất làm được việc này đối với giống loại huyết long không những chỉ 1 lần mà đến những 2 lần . Lần đầu tiên, sự may mắn đã đến với ông ta vào năm 1989, và trong lần đó ông đã thu hoạch được một bầy cá rồng con huyết long đến những 47 con, và trong lần thứ nhì, hai năm sau đó vào năm 1991, ông đã thu hoạch được tổng cộng là 38 con cá rồng con huyết long . Trong cả hai lần may mắn đến độ sững sờ này, ông đã dùng chỉ mổi một con cá trống huyết long được 4 tuổi, dài 45cm . Tuy nhiên cá rồng mái thì không phải chỉ một mà là hai . Con cá rồng mái đầu tiên cho đẻ ra trứng vào năm 1989 cũng được 4 tuổi, nhưng đã chết trước khi lần thứ hai vào năm 1991 được thử lại . Vì thế vào lần thứ hai, một con huyết long mái khác cũng 4 tuổi được cho ép giống với con cá rồng trống trong lần đầu tiên, mà vào thời điểm của lần nhân giống lần thứ 2 đã được 6 tuổi . Để có được cặp cá rồng trống mái, người chủ tiệm cá này đã cho chúng tự lựa chọn người bạn tình bằng cách cho 10 con huyết long đã trưởng thành vào trong một bể kiếng thật hoành tráng và rộng lớn . Kích thước của bể là 260cm X 100cm X 100cm . Sau vài tháng chung sống, một cặp đã được nhận thấy . Chúng luôn bơi cạnh song song bên nhau, và thỉnh thoảng cắn vào các phần vây của nhau . Khi những hiện tượng này xảy ra, chủ cá đã tách rời cặp cá rồng huyết long này, và cho vào một bể kiếng khác với kích thước nhỏ hơn :180cm X 80cm X 60cm . Độ pH được canh đo và giữ ở mức độ thấp . Vấn đề thay nước được thay không điều đặn . Nhiêt độ của bể kiếng dùng trong việc nhân giống là 30 độ C, và hê thống lọc treo phía trên của bể đã được xử dụng . Khi được tách trời, cặp huyết lòng này tiếp tục ve vản nhau qua các động các cọ xát vào cơ thể của nhau, lượn múa theo luân khúc vũ của đường tròn, và động tác cuối cùng để kết thúc trước khi tách rời nhau là quẩy tung tóe nước . Các động tác này được diển lại trong mổi 20 giây-3o giây . Trong thời gian ve vản, lượn múa với nhau, khẩu vị của chúng đối với thức ăn giảm hẳn hơn bình thường một chút . Và không lâu sau đó, phần bụng của cá rồng mái đã phồng to lên thấy rõ . Trong thời điểm bụng cá mái truong to lên, thì cũng là lúc mà chú cá rồng trống huyết long luôn tạo nên những âm thanh nhắn gọi tình nhân có âm hưởng “phù phù” . Vài ngày sau đó, cặp cá đã đẻ, và thụ tinh trứng . Lúc ấy nước trong bể có chút màu trắng đục, và mặt nước có một màng lớp mở trên mặt nước . Miệng của cá huyết long trống lúc này “sưng” thật to so sánh với lúc chúng còn trong giai đoạn ve vản lẩn nhau . Thời gian ấp trứng trong miệng cá bố khoảng 2 tháng . Khi bầy cá con bắt đầu rời miệng bố của chúng để bơi lội bên ngoài, trước khi bơi ngược vào trong miệng bố của chúng, thì chủ cá đã dùng vợt để vớt cá ra . Đây là giai đoạn rất yếu và tối quan trọng trong quá trình phát triển của những con cá rồng con vì noản trứng đeo lủng lẳng bên dưới bụng của chúng rất dể bị vở . Một khi noản trứng bị vở hay nứt, thì cá chắc chắn sẽ chết trong thời gian một ngày là lâu nhất . Nếu bạn phải dùng vợt để vớt cá con ra, thì chỉ nên dùng vợt với lưới thật là mềm, và tuyệt đối không có nhiều lổ hỏng lớn . Tốt nhất là khi cần phải thuyên chuyển bầy cá con trong giai đoạn này, các bạn nên xử dúng cái tô/thau nhỏ để xúc cá ra . CASE #2 Vào năm 1989, người đàn ông Nhật này đã thành công khi nhân giống được loại kim long hồng vỹ (chú thích của moneyless : case #2, tôi đã có bài viết rất chi tiết về sự viêc nhân giống thành công KLHV trước đây, nên tôi cho trích lại đầy, vì case #2 trong sách, tác giả đã loại bỏ đi rất nhiều chi tiết quan trọng, mà theo tôi, thì bài tôi đã viết về sự kiện này sẽ giúp các bạn đọc đam mê cá rồng thông hiểu hơn nhiều) . Tạp ghi về ép giống thành công KLHV trong bể bằng kiếng Khác với những bài viết trước, sau đây là phần phỏng dịch về tự sự của Mr. Hiroshi Azuma, người đầu tiên trên thế giới ép/nhân giống KLHV thành công trong bể bằng kiếng . Các bạn nào có hứng thú thi xin đọc tiếp bài phỏng dich. Những gì trong bài viết này là kết quả của hai thập niên tìm tòi, nghiên cứu : nhân giống thành công Kim Long Hồng Vỹ dài 23 cm, 7 tháng tuổi . Trong nhiều năm trời, tôi đã cố gắng nhân giống cá rồng Châu Á, Scleropages formosus . Giống cá rồng này thuộc loại hiếm và đắc tiền xuất phát từ miền đông nam Thailand, Borneo và Sumatra, nơi mà kết quả của sư đánh bắt quá nhiều, và nơi sinh sống của chúng ngày càng bị giam thiểu dần . Cần phải nhấn mạnh rằng sự mua bán trao đổi của giống cá này được quản lý bởi CITES (Công Ước Quốc Tế về mua bán các chủng loại động/thực vật đang có nguy cơ bị diệt chủng), và các cơ quan công quyền sở tại . Để được có thể nuôi chúng như loài cá cảnh cần phải có giấy phép, và giấy tờ chứng minh . Tôi bắt đầu nghiên cứu và hoạch đinh kế hoạch để nhân giống cá rồng Châu Á từ năm 1972; vào thời điểm đó tôi nghĩ nếu mọi chyện diễn tiến như dự định, thì thành công sẽ đến trong thời gian 5-6 năm . Tôi đã nghĩ sai! Giống KLHV mà tôi dự tính nhân giống đẻ trứng lần đầu tiên vào năm 1974, trong một bể 180 gallons (~ 680 lit nước) với kích thước 183cmX61cmX61cm . Nhưng thật là không may là trứng đều biến mất, tôi hoàn toàn không biết là chúng co trống hay không . Vào năm 1976, tôi thử lại . Tôi có được 6 cặp đẻ trứng, nhưng không có một trứng nào nở . Hầu như năm nào cá cũng đẻ trứng, nhưng chúng đều không nở . Đã vài lần tôi đã thử cho trứng nở bằng phương pháp nhân tạo , nhưng đều không thành công . Sau 6 năm liên tiếp cá đẻ trứng nhưng không nở, tôi cảm thấy tuyệt vọng . Tuy nhiên nhà tôi vẫn khuyến khích và đã giúp đỡ cho tôi rất nhiều từ lúc bắt đầu cho đến cuối . Mặc dầu nhà tôi rât bận, nhưng cô ta vẫn thích thú tìm hiểu về đặc tính của cá rồng, và giúp tôi chăm nom các bể cá . Suy nghĩ của tôi lúc đó là có thể tại kich thước của bể không lớn vừa đủ chăng ? Vào năm 1980, tôi thiết kế một bể kiếng thật lớn với kích thước 406cmX84cmX61cm. Vào năm 1984, tôi lại thiết kế thêm hai bể với kích thước: 305cmX84cmX83cm. Trong cả hai trường hợp, một lần nữa, bầy cá vẫn đẻ trứng như những lần trước, nhưng trứng vẩn không nở . Mỗi một lần cặp cá đẻ trứng khoảng từ 30-80 trứng, trung bình là khoảng 40 trứng . Thường thì cá trống sẽ ấp trứng trong miệng, độ khoảng từ 10-20 ngày, và sau đó thi nuốt luôn cả trứng . Trứng cá rồng rất mảnh khảnh, và như tôi đã nói, tất cả mọi cố gắng để ấp trứng và cho nở theo phương pháp nhân tạo, đều thất bại Tư năm 1974-1989, tôi đã quan sát 30 trường hợp các cặp cá đẻ trứng, nhưng cuối cùng đều thất bại . Trong sự chán nản và tuyệt vọng, tôi đã nghĩ đến chuyện bỏ cuộc . Vào một ngày kia, một cặp KLHV khác lại đẻ trứng, nhưng tôi khong mấy quan tâm, vi nghĩ là cũng sẽ như những lần trước . Tuy nhiên, lần này hoàn toàn khác biệt . Cá rồng trống ấp trứng thật tuyệt vời . Cuối cùng thành công đã đến với tôi ! Ngày 4 tháng 11 , 1989 là ngày mà tôi sẽ luôn ghi nhớ , vì đó là ngày mà cặp cá KLHV của tôi đã ấp trứng thành công . Sau đây là các chi tiết vê các thiết kế, phẩm chất nước .... mà tôi muốn chia sẽ cùng các bạn . Vào tháng 8, 1989, tôi thiết kế một bể hồ với kích thước : 153cmX76cmX46cm với thể tích khoảng 530 lít . Bể được lọc bỏi một bể lọc rất lớn, nằm bên ngoài bể chánh (ghi chú: bể lọc Uót/khô mà moneyless đã đề cập đến), do chính tay tôi làm lấy với kích thước : 46cmX20cmX20cm, với máy bơm nước với tốc độ 260 gallons/giờ (~985 lit nước/giờ) . Bể được đặc ở tầng phía dưới của nền nhà, và dùng đèn nhân tạo . Hai tuýp bóng đèn trắng , mỗi bóng 40 watts được mở lên 14 tiếng/ngày, và một bóng đèn đêm 5 watts, được mở 24/24 . Môt máy sưởi nước 300watts được xử dụng cho bể . Bể không có nền lót bằng sỏi, và trên mặt nước có một số loại cây thuỷ sinh nổi (water sprite, ceratopteris thalictroides) . Độ pH được giữ ở mức 5.6-6.1 . Nhiệt độ của bể được giữ ở 82-86 độ F . Vì không muốn làm phiền chúng, tôi chỉ vào phòng cá trong những lúc cho chúng ăn và thay nước . Trong những lúc khác, tôi quan sát chúng với màn ảnh monitor, và máy VCR sẽ thâu lại những sinh hoạt quan trọng của chúng . Đồng thời tôi cũng chụp ảnh từ xa bằng hệ thống điều chỉnh tự động với máy ảnh 35mm . Trong bể này tôi ép một cặp KLHV . Cá trống khoảng 9 tuổi, dài 56cm. Cá mái được 7 tuổi, dài 51cm. Trong bể chỉ có cặp cá này . Chế độ dinh dưỡng của chúng gồm có : cá mồi vàng, đồ ăn khô, tôm khô, và đôi lúc là một loại tôm còn sống . Nước của bể được thay ít nhất 1 lần/ mỗi 2 tuần, đôi lúc mỗi tuần nếu cần thiết . Cặp cá này bắt đầu cho thấy những đặc tính trước khi đẻ trứng như : ban ngày chúng bơi chậm rải chung quanh chu vi của bể, cá trống bơi theo đuôi cá mái; về đêm chúng bơi theo đường tròn với tốc độ nhanh . Trạng thái ve vản này kéo dài từ 2-3 tháng . Vào khoảng độ tháng 10 cùng năm, chúng có vẻ khẩn trương hơn, tốc độ bơi nhanh hơn, và vòng tròn ngày càng được thu nhỏ lại . Cùng vào thời điểm này, chúng ăn rất nhiều thức ăn . Tôi cho chúng ăn thêm tôm/tép sống, châu chấu, dế bên cạnh những loại thức ăn chủ yếu đã liệt kê . Vì chúng ăn quá nhiều, nên nước được thay thường xuyên hơn , nước được thay mỗi tuần . Nhiệt độ của bể vào thời điểm này là 83-84 độ F, và độ pH : 5.2-5.8 . Vào ngày 24 tháng 10, có thêm một sự thay đổi mới trong phương cách ve vản của chúng . Cá trống không còn bơi theo đuôi, mà lại bơi song song với cá mái . Những đường múa vòng tròn, không còn khắp cả bể, mà bây giờ chỉ trong phạm vi của 1/2 bể . Rất nhiều lần cá trống cắn vi ức, vi đuôi và vi hâu môn của cá mái . Vì thế, các vi của cá mái trong thời điểm này nhìn rất thảm thương . Đã có lúc, vì lo sợ cá mái sẽ bi thương hay bi tấn công đến chết, nhưng chị ta có vẻ thích thú, không hề bỏ chạy trong những lần bị tấn công, và sư luyến ái của hai anh chị có vẻ lại tthêm phần mặn nồng vì cường độ cọ xát cơ thể của hai anh chị gia tăng thấy rỏ . Khẩu vị của chúng vào thời điểm này tuột dốc rõ rệt ,, chúng rất lười ăn, và chỉ ăn dế hay châu chấu cho lấy lê . Nhiệt độ của bể lúc này la 82 độ F, độ pH: 6.1-6.4 . Nước không được thay trong thời điểm này . Vào ngày mùng 4 thang 11, từ 7 gio sáng - 12 giờ trưa, chúng bơi rất chậm theo những đường múa vòng tròn rất khít và thu hẹp trong pham vi khoảng 41cm của bể . Cá mái bơi rất chậm , đôi lúc dừng hẳn lai; cá trống thì vẫn tiếp tục vòng quanh cá mái theo thể múa khoanh tròn . Đôi lúc chúng ngưng hẳn, và chỉ co xát cơ thể vào nhau . Nhiệt độ 84F, pH: 6.1 . Nước hoàn toàn không được thay . Cuối cùng, vừa qua giữa trưa một ít, thì chúng ngưng bơi hoàn toàn, và nằm lặng lẽ dưới đáy bể, cọ xát cơ thể vào nhau . Và thật bất chợt, cá mái oằn cơ thể, và đẩy ra những cụm trứng , cá trống lập tức bắn ra những tia tinh trùng rất khó thấy màu trắng đục . Ngay sau đó, cá trống rất nhẹ nhàng , ngoạm từng trứng một vào miệng . Cá mẹ ăn mất một vài trứng, nhung cá bố thì không nuốt lấy một trứng . Miệng cá bố lúc này phồng to vì đầy cả trứng . Cấu trúc của trứng có màng tế bào thật là mỏng . Sau khi trứng đả thụ tinh, cá bố và mẹ luc nào cũng bơi cùng vói nhau . Nếu nhìn từ phia trước , cá bố có hai đường màu đen hình bầu dục trên hàm dưới . Đây là dấu chỉ của cá đang "ấp trứng" . Cá mẹ sau khi trứng đã thụ tinh, và an toàn trong miệng của cá bố, cá mẹ sẽ bơi phía trên của cá bố, với hai vi ức xoè ngang . Đây là tư thế bơi "bảo vệ" . Hai đặc điểm này nơi cá bố và mẹ, sau khi trứng đã thu tinh, đáng được lưu ý . Cá mồi vàng được thảy vào trong bể, cá bố tuyệt nhiên không đá động gi đến đám cá mồi, cá mẹ vào ngày thứ 5 sau khi đẻ trứng, bắt đầu ăn cá mồi trở lại . Vào ngay 16 tháng 11, 12 ngày sau khi trứng đẻ và thu tinh, trứng có vẻ bắt đầu nở, vì vỏ trứng được tìm thấy ở đáy bể . Hai anh chi vẫn rất còn luu luyến nhau trong thoi gian này, và xem chừng như không giứt ra được . Vào ngày 20, cá bố vẫn chưa chịu nhả cá con, và vẫn từ chối không chịu ăn . Tuy nhiên, khi quan sát những chất bài tiết từ cơ thể cá bố, phân có màu của trứng . Vào ngày 26 tháng 11, tuy hai anh chi vẫn còn luyến ái vói nhau, cá mẹ được vớt ra khỏi bể, vì khẩu vị của cá mẹ đã trở lại bình thường, và có vẻ háu ăn hơn trước rất nhiều , và phẩm chất của nước trong bể bắt đầu bẩn đi, vì cá mẹ quá háu ăn, và bài thải nhiều chất phân . Độ pH rớt xuống khoảng 5.2-5.6. Nước vẫn không được thay, vi sở tổn hại đen trứng, hay cac cá con đã nở . Tôi nghĩ là cá bố có thể ăn những trứng không có khả năng nở . Vào thời điểm này, độ pH là 6.2-6.4, nhiet độ bể từ 83-86F . Lúc này , nước bể được thay 1/5 mỗi lần trong 1-2 tuần . Ngày 23 tháng 12 là ngày mà tôi chờ đợi . Cuối cùng bầy cá con rời miệng cá bố trong những thời gian ngắn, và khi nào chúng cảm thấy nguy hiểm thi lập tức quây trở lại miệng của bố chúng . Vào đêm , bầy cá con lúc nào cũng ở trong miệng của cá bố . Tinh trạng sức khoẻ của cá bố luc này, yếu hơn trước , bơi rất chậm trong bể, đôi lúc nằm yên bất động dưới đáy bể, hay sat mặt nước . Cá bố hoạt động nhiều hơn vào ban đêm . Đám cây thuỷ sinh nổi trên mặt nước có vẻ là những điểm tựa được chọn làm nơi ngoi nghĩ cho cá bố và bầy cá con . Cá bố vẩn từ chối không ăn bất cứ một loại thức ăn nào . Vào ngày 3 thang 1, 1990, 60 ngày sau khi trứng thụ tinh, bầy cá con đã có thể rời miệng bố của chúng để tung tăng bơi lội trong một khoảng thời gian khá dài . Mặc dầu chúng vẩn lẩn quẩn gần bên miệng của bố chúng, nhưng không hề bơi trở vê miệng của cá bố nữa . Noãn trứng của bầy cá con, bây giờ đã rất nhỏ . Tổng cộng bầy cá đếm được 21 con . Ba ngày sau, cá bố được chuyển qua một bể khác , nhưng phải 10 ngay sau khi chuyển hồ cá bố mới chịu ăn trở lại đồ ăn khô, (cá bố nhin ăn tổng cộng là 75 ngày ), và phải thêm 2 tuần nữa, cá bố mới bắt đầu chịu ăn lại cá mồi . Vào ngày 8 tháng 1, bầy cá con bắt đầu ăn trùng chỉ đỏ, và 1 ngày sau đó, bắt đau ăn những loại cá mồi loại nhỏ . Cá mồi có vẻ kích thích cá tính của bầy cá con . Chúng băt đầu choảng nhau, nên cần phải tách rời chúng vào từng bể riêng . Mổi bể có thể tích ~ 40 lit nước, độ pH: 6-2-6.4, nhiệt đô: 82-84F . Nước của bể được lấy 1/2 từ bể chánh, và 1/2 là nước mới . Nước trong bể bầy cá con được thay 1/3 mỗi 1-2 tuần . Chúng lớn nhanh như thổi . 60 ngày sau khi trứng thụ tinh, bầy cá đo được 7.62cm, 120 ngày đo được 14.2 cm, 180 ngày 18.3 cm, và vào 210 ngày, cá lớn nhất đo được 23cm. Chu kỳ sinh sản tự nhiên của cá rồng Châu Á chỉ 1 lần trong năm, tuy nhiên, cá rồng mái với 4-7 năm tuổi, sẽ sanh 2 lần trong một năm . Để có được sự thành công này, đây là môt giấc mơ dài đăng đẳng 20 năm . Dĩ nhiên cá rồng Châu Á lúc nào cũng có giá trị về tài chánh, nhưng vì đây là giống cá đang được bảo vệ và đắc tiên, số người chơi sẽ chỉ có giới hạn , và cho những ai may mắn có thể có được giấy phép để nuôi chúng và nhân giống thành công, thì đây là một sự thử thách không tiền khoáng hậu . Hy vọng là tôi đã không làm mất thời giơ` của các bạn khi tạm phiên dịch bài tường thuật của chính tác giả . Tác giả hiện tại được xem như là chuyên viên cự phách #1 của Nhât về cá rồng Châu Á , luôn đi tiên phong trong vấn đề nhân giống cá rồng , và rất được ngưỡng mộ khắp thế giới, vì như đã nói trên, ông là người đâu tiên cho ép cá rồng thành công trong bể/hồ kính . Số lượng người chơi ép cá rồng thành công trong bể kiếng như ông Hiroshi Azuma, hiện tại trên thế giới chỉ đếm được trên đầu ngón tay . Các bạn đã chuẩn bi sẳn sàng chưa ? Hy vọng sẽ không phải mất 20 năm nhé . CASE #3 Vào năm 1996, một chủ tiệm bán cá rồng rất có tiếng tại Nhật đã làm kinh ngạc cộng đồng chơi cá rồng trên khắp thế giới, khi ông ta đã cho nhân giống thành công loại cá rồng Châu Á đắt tiền nhất trong bể kiếng . Nhưng ông ta không dừng lại ở đây, mà tiếp tục những bước bực phá mới bằng cách tiếp tục cho nhân giống thành công kim long quá bối tổng cộng tất cả là 7 lần, tuy nhiên trong 7 lần đó, có 2 lần cá rồng trống ăn và nuốt hết trứng . Ông ta nói trong 2 lần không may đó, cá trống ăn trứng là tại vì phẩm chất của nước xấu và tuổi cá còn hơi non trẻ , chỉ mới 4 tuổi . Trong lần đâu tiên thành công, ông thu hoạch được 20 con, nhưng chỉ 19 con sống sót . Trong lần thứ 2, có được 10 trựng được đẻ, nhưng chỉ 5 con nở, vì 5 trứng còn lại đã không được thụ tinh . Người đàn ông này cho 10 con quá bối vào bể với kích thước 200cm X70cn X50cm . Hai tháng sau, một cặp đã được nhận thấy, và tách riêng ra bể kiếng khác . Khoảng 1 tháng sau, bụng con cá rồng quá bối mái đã sưng to lên, và chuyện gì phải đến đã xảy ra ngay 1 tháng sau đó . Nhiêt độ của bể là 28 độ C, và độ pH ở mức 5-6 . Các con cá rồng quá bối trống được xử dụng trong các trường hợp nhân giống thành công này có tuổi từ 4-10 . Cá rồng quá bối mái được xử dụng có tuổi trung bình là 4 . Cá rồng trống thường phát triển chậm hơn cá rồng mái về đường sinh dục, nên khi lựa chọn bầy cá giống để dùng trong việc nhân giống, cá rồng trống nên có vài năm tuổi già hơn người bạn tình, để tránh chuyện vì tuổi còn non, chưa biết làm "chuyện ấy", nên sẽ có khả năng xơi luôn cả trứng khi trứng đang được ấp trong miệng . |
| Đã có 29 thành viên gửi lời cảm ơn tới genta vì bài viết hữu ích này: | ||
baoanh, Blood red, broadzone, Cavangsutu, Cá cảnh VN, david_cz0212, dungtien, green, hoachampa, huagia, kybuulai, letuanhoanggia, man.pro007, namdung, ndm1965, ngothehung, nguyenngocdung1972, nhimbeo89, NV.HanhD, QuachDinhHa, qvd, rong thuy sinh, tanphu_catv, thong mai, THUANTH, tudaubac, Vanhd, Van_Hieu, vnese_gangz | ||
|
||||
|
CHƯƠNG IV
THU HOACH CÁ RỒNG CON Khi thời điểm thu hoạch đến, thì đây là thời gian vui nhất trong năm cho tất cả các nhân viên trại cá rồng . Các công việc cực nhọc hằng ngày như: nào là thay nước, theo dỏi/bảo quản/duy trì phẩm chất của nước , thời săn chăm sóc và cho bầy cá rồng giống ăn hằng ngày, những lần rình rập để theo dõi v.v… Đây là thời gian mà những công sức vất vả và thời gian đã bỏ ra trong năm vừa qua, hy vọng sẽ được tưởng thưởng xứng đáng . Sau khi đã chờ đợi 3-4 năm, thậm chí trong nhiều trường hợp 4-5 năm , lúc được cảm nhận được những con cá rồng con trong tay, thì quả thật đây là một sự tưởng thưởng rất xứng đáng . ![]() Trong một vài trường hợp cá biệt, có thể đây không là dịp đáng vui mừng hân hoan tí nào . Thông thường, họ sẽ rất là hồi hợp, lo âu trước ngày thu hoạch , vì không có gì là chắc chắn 100%, vì kết quả thì chẳng ai có thể đoán biết trước được cho đến khi công việc thu hoạch đã xong đâu vào đấy trong vòng vài tiếng sau . Việc thu hoach cá rồng con khác với công việc thu hoach các loại cá cảnh khác tại những trại cá cảnh nhiệt đới khác, vì ở những trại này, các bạn có thể thấy và biết trước là mình sẽ có gì, và ước lượng được số lượng là khoảng bao nhiêu, nhưng đó không phải là những gì mà các nhân viên trại cá rồng có thể phỏng đoán trươc được . Biết đâu vì yếu tố bất ngờ, không đoán trước được kết quả của các cuộc thu hoạch cá rồng đã giúp các nhân viên trại cá luôn hăng xay với công việc chăng ? . Mùa thua hoạch cá rồng xảy ra 2 lần/năm . Lần thứ nhất bắt đầu từ tháng 4-6, và lần thứ hai từ tháng 10-12 . Trong khoảng thời gian của mùa thu hoach , nhân viên sẽ phải kiên trì theo dỏi bầy cá rồng giống trong ao từ xa, hoặc núp sau những lùm cây . Thời điểm tốt nhất trong ngày để quan sát các hành động ve vản, luyến ái của cá rồng là vào những lúc nhiệt độ chưa lên cao hoặc đã dịu xuống như vào lúc buổi sáng, và lúc xế chiều . Trong những buổi trưa nóng bức, bầy cá rồng thường hay ẩn nấp sâu dưới đáy ao để tránh cái nắng oi ả của vùng nhiêt đới . Sau nhiều lần quan sát kỷ càng, và tính toán, thì ngày giờ thu hoạch cá con cho từng ao sẽ được quyêt định. Khi biết chắc giai đoạn luyến ái có thể kéo dai từ vài tuần cho đến vài tháng đã qua, và cá đã đẻ trứng, thì lúc ấy ngày thu hoạch mới có thể định đoạt . Cách tính thì như thế này : 1 tuần để trứng cá có thể nở trong miệng cá bố, và chờ đợi thêm từ 4-6 tuần để cho bầy cá con có thể đạt được kích thước 5-8cm . Vì cá rồng là loại cá nuôi con trong miệng, rất là khó nếu chỉ quan sát từ xa là trong miệng của con cá đang bị “nghi ngờ” là có cá con hay không, nhất là khi nếu chỉ là một bầy nhỏ chỉ khoảng từ 10-20 con cá con . Vì thế, các bạn đừng vội tin là tất cả những con cá rồng bố đang nuôi con đều trong như có miệng phồng to . ![]() Đôi lúc cũng gặp “tổ trát”, vì nếu tính sai ngày giờ thu hoach, thì đôi lúc tuy có trứng trong miệng cá bố, nhưng chưa nở vì trứng chỉ mới được ấp trong vài ngày . Trong các trường hợp như thế này, thì trứng sẽ hoàn toàn bị hư và phải bị hủy thôi . Đây là trường hợp rất đáng tiếc , đã từng và sẽ tiếp tục xảy ra trong việc thu hoạch cá rồng con . Để có thể cho cặp cá rồng đó có thể đẻ trứng trở lại, trai cá lại phải chờ đợi từ 6-12 tháng để chu ky sinh sản có thể tái diển . Một điều nhức đầu mà trại cá phải luôn cẩn thận là vì trong một ao nhân giống, không phải các cặp cá rồng đều đẻ trứng trong cùng một thời gian . Có cặp thì trứng đã được ấp và đã nở được vài tuần, có cặp thì trứng chỉ mới vừa được thu tinh và chưa nở . Ngoài ra còn có các trường hợp khi quan sát con cá rồng bố thì đoán biết là bầy cá con cá con đã nở, và ngày giờ thu hoạch được cho lên kế hoạch . Nhưng hởi ôi, sao khi khám xét cửa miệng của cá bố, thì bầy cá con thì biệt tin nhàn cá, chẳng thấy đâu !!! Trong các trường hợp này có hai nguyên nhân : 1. Trong lúc thu hoach, vì các âm thanh khich động mà cá rồng chắc chắn cảm nhận được, nên đã làm cho cá bố nhả hết bầy cá con xuống dưới đáy ao ; 2 . Tệ hơn thế nữa là khi cá bố đã nuốt hết bầy cá con vào trong bụng . Các trường hợp nuốt bầy cá con vào trong bụng thường rất xảy ra cho các con cá rồng bố, vì còn non nót, thiếu kinh nghiệm và sợ hải nên đã làm như thế . ![]() CHUẨN BỊ THU HOẠCH Khi ngày giờ thu hoạch đã được đinh đoạt, dĩ nhiên phải có sự chuẩn bị trước đó vài ngày . Bầy cá rồng giống trong những ao đã được cho lên kế hoach, sẽ không được cho ăn ít nhất là từ 2-3 ngày . Đây là chuyện cần thiết cần phải để làm “sạch ruôt” của bầy cá giống trong ao, và tránh các trường hợp chúng sẽ “ói mữa” trong thời gian thu hoạch vì hoảng sợ . Thứ đến là mực nước trong ao phải được bơm ra, để nhân viên có thể đi lại thoải mái trong ao . Công tác bơm nước ra khỏi ao thường rất cần thiết tại các trại cá rồng bên Indonesia, vì mực nước của các ao nhân giống cá rồng tại quốc gia này sâu hơn các ao cá rồng tại Singapore . Tùy theo kích thước của ao, thường công việc thu hoạch cần khoảng 4-5 người đàn ông có sức khỏe tốt . Phải cần có sức khỏe, vì công tác thu hoạch cá rồng là công việc đòi hỏi nhiều sức lực, và rất mất sức . Các vết cắt, bầm dập vì khi cá rông kinh hoảng, chúng sẽ phóng thẳng vào người bạn . Cá rồng rất khỏe , nên các vết bâm dập trên cở thể của cac; người thu hoạch là chuyện thường xảy ra . Các vết cắt trên tay thường xảy ra khi phải dùng tay để tách miệng cá bố để lấy cá con . Vì thế đôi lúc các bạn sẽ thấy một số nhân viên thu hoach sẽ mặc độ lặn của người nhai, và đeo găn tay trong lúc thu hoạch cá rồng con . Các dụng cụ dùng trong cộng việc thu hoạch gồm có : lưới vớ kích thước lớn vừa đủ, lưới nhỏ , bao nylon, thùng chứa nước, hộp mút, máy rà mã số, v.v… phải được chuẩn bị sẳn sàng . Bao nylong để chứa đựng cá con phải có hai lớp với hai kích thước khác nhau , một cho cá bố, và một cho bầy cá con . Thùng nước sẽ được dùng để múc nước cho vào thùng mút để sẳn, vì trong trường hợp sau khi rà mã số vì lý do gì đó mà cá bố không có con chip trong cơ thể, thì lập tức cá bố phải đước bắn con chip khác và làm giấy tờ khai sinh lai ngay . ![]() Tại Singapore, các trại cá rồng không có sự lưa chọn nào khác là phải thu hoach cá trong buổi sáng, vì cán sự của cơ quan chính phủ phụ trách về cá rồng chỉ làm việc trong giờ này . Các cán sự của các cơ quan liên hệ phải được thông báo trước để họ có thể hiện diện theo lịch trình thu hoach cá rồng . Tất cả những cuộc thu hoạch không có sự hiện diện của các cán sự đại diện cho cơ quan chính quyền liên hệ đến cá rồng là điều không thể chấp nhân. được . Nếu không có sự hiện diện của họ, các con cá rồng con sau khi thu hoạch sẽ không được công nhân, không được bắn mã số, và dĩ nhiên giấy khai sinh cũng sẽ không được quyền cấp . Tất cả mọi việc thu hoạch cá rồng phải làm thế để đảm bảo rằng bầy cá con không phải được đánh bắt từ các con cá rồng trong hoang dã, mà là từ các thế hề F2 hay sau đó . Đây là điều kiện bắt buộc bởi CITES, trước khi cá rồng được cho phép để xuất cảng . Tuy nhiên , bên hai quốc gia Malaysia và Indonesia, thì các trại cá rồng có thể thu hoạch trong buổi sáng hay chiều tùy theo lúc nào thuận tiện cho trại cá vì thời tiết và nhiệt độ trong ngày . Họ có thể làm thế vì các cán sự liên hệ về cá rồng của chính quyền không cần phải có mặt để xác minh xuất xứ của bầy cá con . Một trong những lý do có phần hơi dể dãi này là có thể Malaysia và Indonesia là 2 quốc ra rộng lớn hơn Singapore rất nhiều, cho nên việc đi lại cho các nhân viên cán sự đến các trại cá là điều tạo nên nhiều khó khăn và trở ngại . |
| Đã có 20 thành viên gửi lời cảm ơn tới genta vì bài viết hữu ích này: | ||
|
||||
|
THU HOẠCH
![]() Tùy thuộc vào kích thước của ao nhân giống, bao nhiêu ao đã được lên kế hoạch để vớt cá trong ngày, và số lượng cá trong mổi ao cần phải kiểm tra …. công việc thu hoạch kéo dài khoảng từ 1-3 tiếng . Chỉ trừ trong các trường hơp đầy đủ nhân lực, một người đàn ông bình thường sẽ mệt nhoài sau khi thu hoach cá từ 1 đến 2 ao . Vì thế , hầu hết các trại cá chỉ sẽ làm công việc này nhiều nhất là từ 1-3 ao trong ngày, trong khoảng thời gian từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa . Vì lệ phí phải thanh toán cho các cán sự của cơ quan liên hệ được tính trả bằng giờ, nên không có việc gì phải gấp rút trong việc thu hoạch . Khi tất cả những con cá rồng giống trong ao đã được rượt đuổi, và ép vào một bên của ao bởi 4-5 người đàn ông, bằng cách đi thật chậm dọc theo hai bên bờ ao và kéo theo lưới khi họ di chuyển trong ao . Lúc này là lúc mà công việc thu hoạch thật sự bắt đầu . Người được chỉ đinh để khám xét miệng của cá rồng phải là người rất nhiều kinh nghiêm, mà thường là chủ trại cá rồng . Người phụ tá sẽ dùng lưới với kích thước nhỏ hơn để “bắt” cá và mang đến người làm công tác thanh tra . Bằng cách quan sát thật kỷ lưởng và cẩn thận, cộng thêm kinh nghiệm của bản thân, sẽ cho người thanh tra biết rất chính xác là con cá đang được xem xét bằng cách nhìn bề ngoài của miêng cá là đang có nuôi bầy cá rồng con trong miệng hay không . Nếu khi xác định là trong miệng cá không có cá con, cá sẽ được trả tự do và cho bơi qua phía bờ bên kia của ao . Và cứ thế từng con cá rồng một đều phải được khám xét như thế cho đến khi tất cả những con cá rồng giống trong ao được thanh tra . Nếu khi xác định được con cá rồng nào đang nuôi con trong miêng, chủ trại cá sẽ cần phải quyết định thật nhanh chóng và chính xác đây có phải là thời điểm đúng lúc để “thu hoach” bầy cá con hay không ? Câu hỏi lúc này là “cậy miệng” hay không cậy miệng cá! Nếu trứng trong miệng cá bố chưa nở, thì điều nên làm là thả nó ra và chịu khó chờ đợi thêm một thời gian trong khoảng một tháng nữa . Nếu tất cả đều hạnh thông và may mắn, thì khoảng một tháng sau, sẽ chính con cá rồng bố này sẽ cho trại cá một bầy cá rồng con với kích thước khoảng 5cm . Bằng như không may, thì liền sau khi được trả tự do, cá rồng bố sẽ nuốt ngay trứng đang được ấp trong miệng của nó, vì kinh hoảng và stress mà cá phải trải qua trong thời gian thu hoach . Nếu quả đó là điều không may, thì coi như mất toi một bầy cá con ! ![]() Tiêu đời một con quá bối con, vì bị hàm răng của cá bố cứa đứt đầu trong lúc thu hoạch Tuy nhiên, đối với người dầy dặn kinh nghiệm, thì thông thường trong các kỳ thu hoạch như thế này sẽ có những bầy cá con với kích thước khoảng từ 5cm ( hoàn toàn chưa bơi được) cho đến 8cm ( đã tung tăng tự bơi lội). Với khoảng kích thước như thế này, noảng trứng sẽ còn dính lủng lẳng dưới bụng của bầy cá con . Noản trứng rất yếu và mỏng, rất dể bị rách , vở trong lúc phải cậy miệng cá bố và lắc cho chúng rớt ra . Đôi lúc, những hàng răng sắc bén của chú cá bố sẽ cứa đút những con cá rồng con ra phân nữa! Có những con cá bố, rất cứng đầu và ngoan cố, sẽ không chịu há miệng, nhựng lại có những con rất dể chịu và để cho miệng chúng được cạy mở rất dể dàng . ![]() Một con quá bối khác đã chết khi noản trứng bị vở trong lúc thu hoạch KẾT QUẢ Số lượng cá rồng con cho mổi một con cá bố trong các ký thu hoạch thay đổi có thể từ 1-80 con ! Trung bình thì khoang? Từ 20-35 con cá rồng con cho mổi con cá bố . Phẩm chất của nước, thời tiết/khí hậu, các loại thức ăn , tuổi của cá bố và mẹ –là những yếu tố quan trọng có tính cách quyết đinh số lượng của bầy cá con . Tuổi cá bố và mẹ càng ít tỷ lệ thuận với số lượng của bầy cá con và ngước lại cho các con cá giống đã có tuổi . Sau khi đã đến số tuổi nhất định đã được đề cập trong chương trước, năng suất sinh sản của cá rồng sẽ sút giảm . Nếu phải nói theo thống kê, thì năng suất sinh sản của cá rồng sẽ có hình của tháp chuông (bell shape curve) . Thời gian thu hoạch cũng ảnh hưởng đến kết quả . Nếu thu hoạch bầy cá con sớm, số lượng cá con thu được sẽ tăng, vì chờ đợi càng lâu, bầy cá con sẽ lớn dần theo thời gian , mà bên trong miệng của cá bố chỉ có giới hạn nên sẽ tạo nên tình trạng chật chội, khó chịu cho cá bố . Trong trường hợp quá nhiều trứng, trứng có thể sẽ bị vỡ . Hoặc khi đã nỡ và biết bơi, chúng sẽ rời miệng cá bố và sẽ trở thành thức ăn cho những con cá khác ! Vì thế, canh sao để thu hoạch cá rồng con đúng thời điểm đúng lúc luôn là điều cần phải được tính toán cho thật kỷ lưởng . ![]() Một con quá bối con khác bị thiệt mạng trong lúc thu hoạch vì hàm răng sắc bén của cá bố Cá rồng có thể sinh sản 1-2 lần, và thậm chí đến cả 3 lần trong một năm . Trung bình thì khoảng 2 lần/ năm . Có nghĩa là sau mổi một lần sinh sản và nuôi con, cặp cá rồng sẽ nghĩ ngơi khoảng từ 4-6 tháng, trước khi chúng có thể tiếp tục trở lại . Tuy nhiên, cá rồng thường là giống không chung thủy, chúng vẩn có thể xé rào, nhảy dù đi hoang, khi có cơ hội . Chỉ sau khi thu hoạch, mã số của cá rồng bố được rà thì lúc ấy ai là tác giả của các bầy cá con, cũng như huyết thống của bầy cá con mới được xác định . Chỉ có cá bố mới được kiểm mã số, vì cá bố sẽ là cá nuôi bầy cá rồng con . Cá rồng mái sẽ chẳng bao giờ được kiểm mã số, và vì thế công sức của cá rồng mẹ, sẽ chẳng bao giờ được biết đến, cũng như con cá rồng má nàoi trong bầy cá giống là mẹ của các bầy cá rồng con sẽ chẳng bao giờ được biết . Hầu hết cá trống sẽ ấp và nuôi con, tuy nhiên trong các trường hợp hiếm hoi khi trứng được “xả” ra quá nhiều, mà cá rồng trống không thể kham hết vào trong miệng, thì lúc ấy cá rồng mái sẽ phụ giúp trong việc ấp và nuôi con . Các trường hợp này rất hiếm xảy ra, nhưng không phải là hoàn toàn không có . |
| Đã có 49 thành viên gửi lời cảm ơn tới genta vì bài viết hữu ích này: | ||
Andre, baoanh, broadzone, Cavangsutu, Cá cảnh VN, chi rong 74, chilired, crossback_pb, david_cz0212, dzurock, eskimo, green, hoachampa, hoamascolo, HoangLong88, khachuy_st, kybuulai, Lahankimcuong, letuanhoanggia, mam.9999, mrju, namdung, namtran, ndm1965, ngothehung, nguoiyeunuoc, nguyenngocdung1972, nhan_arowana, NV.HanhD, prettyboy_DN, QuachDinhHa, quang90, quangvinhl3, quochuyct, qvd, rong thuy sinh, royal_1909, SHi150, sonanh2030, stevan92000, tanphu_catv, thong mai, THUANTH, trungkin, tudaubac, Vanhd, Van_Hieu, vjpsockcuteboy, zipbo999 | ||
![]() |
«
Chủ đề trước
|
Chủ đề kế tiếp
»
| Công Cụ | |
|
|
Tất cả thời gian được tính theo GMT +7. Bây giờ là 11:02.





























































































Kiên định một......








